Read the English version here.
Bà từng theo học Trường Kiến trúc thuộc Đại học Bách khoa Milan. Vậy bà rẽ hướng sang lĩnh vực thiết kế triển lãm như thế nào, và nền tảng kiến trúc có ảnh hưởng ra sao đến công việc hiện tại của bà?
Việc tôi chuyển từ kiến trúc sang thiết kế triển lãm có liên hệ rất nhiều đến quá trình đào tạo của mình. Đối với một kiến trúc sư, thiết kế triển lãm đặc biệt hấp dẫn bởi nó cho phép ta chứng kiến một dự án đi đến hoàn thiện trong thời gian nhanh hơn rất nhiều. Đó là một dạng kiến trúc có hạn định, và tôi lập tức bị cuốn hút bởi những khả năng sáng tạo mà nó mở ra. Ở Ý, đặc biệt vào thời gian tôi còn học, chưa bao giờ có ranh giới quá rạch ròi giữa kiến trúc, thiết kế sản phẩm và thiết kế nội thất.
Dự án đầu tiên của tôi tại GSM Studios là vào năm 2004, khi ấy tôi đã bắt đầu thực hành thiết kế triển lãm tại Singapore. Đó là dự án Living Galleries cho Bảo tàng Quốc gia Singapore (NMS). Thời điểm ấy, GSM Studios (tiền thân là GSM Project), vốn là một công ty Canada, vẫn chưa có văn phòng tại Singapore. Tôi có lẽ là một trong số ít nhà thiết kế triển lãm tại Singapore bắt đầu tự thực hiện những triển lãm quy mô nhỏ. GSM Studios vừa được lựa chọn thực hiện Living Galleries, một dự án với quy mô rất lớn. Họ đã giao cho tôi phụ trách một phần của triển lãm, gồm bốn phòng trưng bày xoay quanh nhiếp ảnh, ẩm thực, điện ảnh và thời trang. Đây cũng là cơ hội đầu tiên để tôi tham gia một triển lãm cố định ở quy mô tầm cỡ như vậy.

Bối cảnh khi ấy hẳn phải rất khác so với hiện nay. Lúc đó, đâu là những điều bà và GSM Studios đặc biệt lưu tâm để tạo ra trải nghiệm không gian tích cực cho người thưởng lãm?
Khi nhìn lại những trải nghiệm đầu tiên của tôi với tư cách một nhà thiết kế triển lãm tại Singapore, ngay cả trước khi gia nhập GSM Studios, một trong những mối quan tâm lớn nhất là làm thế nào nâng cao tiêu chuẩn triển lãm, từ chất lượng thi công, triển khai cho đến khả năng điều phối tổng thể. Ngành công nghiệp triển lãm như chúng ta biết ngày nay khi ấy đơn giản là chưa tồn tại. Hệ sinh thái gồm các đơn vị chế tác triển lãm chuyên nghiệp, am hiểu đồ họa triển lãm, trưng bày và quy trình sản xuất chuẩn bảo tàng, vẫn chưa hình thành. Vì vậy, một trong những thách thức lớn nhất là xây dựng được mạng lưới hợp tác để hiện thực hóa các triển lãm trong bối cảnh ngành bảo tàng Singapore đang trải qua những chuyển biến sâu sắc.
Một vấn đề quan trọng khác là thay đổi cách thức giám tuyển triển lãm và dẫn dắt câu chuyện. Vào thời điểm ấy, NMS vẫn là một thiết chế khá truyền thống, và nhiều giám tuyển vẫn chưa quen với phương thức làm việc đương đại hơn. GSM Studios đề xuất kể chuyện theo những cách khác, thông qua các phương tiện truyền thông mới và các hình thức diễn giải lôi cuốn đối với khán giả. Ví dụ, đối với Phòng trưng bày Lịch sử chính tại NMS, một hệ thống thuyết minh đã được đưa vào sử dụng, loại bỏ hoàn toàn yếu tố văn bản. Lịch sử truyền khẩu là một ý niệm mà GSM đặc biệt quan tâm, và chúng tôi đã tập hợp một ê-kíp hoàn toàn mới, bao gồm các diễn viên được mời để đọc kịch bản theo phong cách kịch phát thanh, chấp bút bởi không chỉ giám tuyển mà cả các nhà văn. Tham vọng ở đây là tiếp cận lịch sử theo một cách đổi mới có thể thu hút khán giả trẻ, thay vì tiếp tục mô hình hiện vật đi kèm văn bản diễn giải truyền thống.
Từ đầu những năm 2000 đến nay, kỳ vọng của công chúng bảo tàng đã thay đổi cùng với sự xuất hiện của mạng xã hội, giải trí trên thiết bị di động và thiết kế đa kênh. Theo bà, vai trò của văn bản trong việc bổ trợ cho hiện vật đã thay đổi như thế nào?
Hiện nay tồn tại vô số giải pháp khác nhau. Điều đã thay đổi và trở nên tinh vi hơn rất nhiều là cách các nhà thiết kế đồ họa làm việc trong môi trường triển lãm, xử lý văn bản trong không gian theo nhiều lớp lang và tạo ấn tượng thị giác mạnh mẽ. Trong thiết kế triển lãm, chúng tôi thường đặt câu hỏi: “Một đoạn văn bản có thể ngắn đến mức nào?” Nhưng vấn đề không đơn thuần nằm ở độ dài. Điều quan trọng là cách tổ chức thông tin thành nhiều tầng và làm việc với giám tuyển để các tầng thông tin ấy được diễn đạt một cách có ý nghĩa trong không gian.

Văn bản triển lãm tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau. Một số văn bản cung cấp bối cảnh bao quát cho toàn bộ phòng trưng bày hay một chủ đề; một số khác liên hệ trực tiếp với từng hiện vật, định hướng hành vi của khách tham quan, khơi gợi suy tưởng thông qua các trích dẫn, hoặc mở ra cơ hội để công chúng tìm hiểu sâu hơn. Không phải mọi thứ đều do nhà thiết kế quyết định, bởi ngay cùng một yếu tố văn bản cũng có thể được những nhóm quan khách khác nhau sử dụng theo những cách riêng trong từng hoàn cảnh. Chẳng hạn, người tham quan đơn lẻ sẽ tiếp nhận các lớp văn bản khác với một nhóm có hướng dẫn viên – khi ấy văn bản lại hỗ trợ cho quá trình diễn giải tập thể hơn là suy nghiệm cá nhân.
Trong thời gian gần đây, tôi nhận thấy sự xuất hiện ồ ạt của mã QR và điện thoại di động. Những yếu tố này tràn ngập các không gian triển lãm, gợi nhớ hình ảnh tương tự tại các không gian thương mại. Cách chúng được đưa vào thiết kế đôi khi rất thô sơ. Ngay cả giao diện QR cũng có thể được xử lý lại, nhưng trên thực tế điều đó hiếm khi xảy ra. Các chi tiết như vậy thường chỉ được xem như những bổ sung mang tính công năng.
Xa hơn nữa là vấn đề sử dụng điện thoại di động. Thử nghiệm với hệ thống thuyết minh tại NMS đã đạt thành công rất lớn, nhưng đồng thời cũng vấp phải nhiều phê bình vì áp đặt một hình thức tham quan phụ thuộc hoàn toàn vào tai nghe, loại bỏ hầu hết yếu tố tương tác xã hội. Điện thoại di động có thể mang lại nhiều khả năng thú vị, nhưng theo tôi, triển lãm nên là một nơi đặc biệt dành cho việc tận hưởng chiều kích của không gian thay vì giới hạn của màn hình.
Đâu là một thách thức thường xuyên xuất hiện khi xử lý văn bản song song với hiện vật?
Với NMS, chúng tôi từng cân nhắc trình bày văn bản bằng bốn ngôn ngữ, theo chính sách ngôn ngữ của Singapore. Ý tưởng này nghe có vẻ rất hấp dẫn và ý nghĩa, nhưng khi lượng văn bản được nhân lên bốn lần, không gian lập tức trở thành một vấn đề.

Văn bản chiếm không gian, đặc biệt khi nó phải được trình bày ở kích thước bảo đảm khả năng đọc. Ta cũng phải tính đến thời gian khách tham quan dừng lại tại một vị trí và việc tiếp nhận thông tin trong không gian, để họ không bị mắc kẹt trước một bức tường toàn chữ. Có lẽ ta nên hình dung triển lãm như một hình thức vận động, khác hoàn toàn với việc ngồi đọc sách. Câu nói kinh điển mà các nhà thiết kế triển lãm chúng tôi thường dùng đó là đừng tạo ra “một cuốn sách trên tường.”
Dẫu vậy, cá nhân tôi thực sự yêu thích văn bản và đồ họa. Trong suốt hành trình làm thiết kế triển lãm, tôi đã có cơ hội làm việc với nhiều nhà thiết kế đồ họa xuất sắc, những người đã thay đổi đáng kể cách tôi hiểu về từ ngữ trong không gian. Họ có cách tư duy rất tinh tế về không gian âm và không gian dương, cả về phương diện ý niệm lẫn thị giác.
Tôi cho rằng điều đặc biệt thú vị là thiết kế đồ họa cho triển lãm rất khác so với thiết kế sách hay ấn phẩm in. Nó đòi hỏi khả năng hình dung văn bản trong không gian, sử dụng tỷ lệ như một yếu tố thị giác chứ không chỉ theo cách máy móc, đồng thời suy nghĩ xuyên suốt nhiều bối cảnh kiến trúc khác nhau. Văn bản phải đáp ứng được tỷ lệ của không gian cũng như của hiện vật. Bởi văn bản chịu sự chi phối của các nguyên tắc về khả năng đọc, ta thường tuân theo một số quy tắc thiết kế nhằm làm chữ lớn và dễ đọc hơn. Tuy nhiên, văn bản vẫn phải hoạt động trong bối cảnh mà hiện vật giữ vai trò chủ thể trung tâm. Theo nghĩa đó, văn bản nên đảm nhận một vai trò thứ yếu.
Văn bản có thể đóng vai trò như một công cụ giáo dục và định hướng trải nghiệm tham quan. Chị có thể chia sẻ một ví dụ về cách chị quyết định nội dung nào cần lược bỏ và nội dung nào nên được ưu tiên?
Một ví dụ là Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Lee Kong Chian tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Ở cương vị một bảo tàng đại học, việc trình bày những nội dung có tính khoa học nghiêm ngặt vẫn phải bảo đảm khả năng tiếp cận đối với công chúng không chuyên. Một trong những thách thức là thuyết phục các chuyên gia, phần lớn là các nhà sinh học, rằng ta có nhiều lăng kính khác để hiểu hơn về các sinh vật sống và mẫu vật tự nhiên, chứ không chỉ bó hẹp trong các phương thức chuyên ngành. Ta cũng có thể đan cài chúng thành những câu chuyện.
Đây là một cuộc thảo luận phức tạp diễn ra ở giai đoạn đầu. Chúng tôi thường gọi giai đoạn thiết kế này là “diễn giải đề án” – một nỗ lực lớn nhằm quyết định cách nội dung sẽ được tổ chức như thế nào trong không gian.

Cuối cùng, triển lãm được tổ chức theo nhiều tuyến tự sự song song. Một số tuyến bàn về đa dạng sinh học bằng thuật ngữ khoa học, trong khi những tuyến khác tập trung vào các chiến lược đáng kinh ngạc mà thực vật hay động vật sử dụng để sinh tồn. Những câu chuyện này giúp khách tham quan, đặc biệt là nhóm công chúng trẻ, hình thành những kết nối tự nhiên hơn với các mẫu vật trưng bày. Vì vậy, chúng tôi xây dựng nhiều tầng văn bản phục vụ những mục đích khác nhau. Mỗi khu vực mở đầu bằng ba câu hỏi có tính neo giữ: Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Những câu hỏi đơn giản như vậy tạo ra một điểm tựa tức thời, qua đó giúp các nhà giáo dục dẫn dắt khách tham quan xuyên suốt triển lãm.
Bà có chia sẻ như thế nào về yếu tố chiều kích âm thanh trong văn bản, đặc biệt là nhìn từ góc độ các thực hành của bà cùng SISTRUM, một tập thể liên ngành tập trung vào nghệ thuật sắp đặt và âm thanh?
SISTRUM là một tập thể gồm nhà thiết kế âm thanh Ramesh Krishnan, nhà thiết kế đồ họa Lim Shumin và tôi với tư cách một kiến trúc sư. Chúng tôi đã nhiều lần cộng tác với các nhà văn, bởi cả ba đều có chung tình yêu đối với văn bản và chữ viết. Ví dụ như tại Liên hoan Nhà văn Singapore, chúng tôi thiết kế một phòng trải nghiệm cho kỳ liên hoan, đặt tên Nếu ta dừng giữa những dòng suy tưởng. Không gian gồm nhiều màn hình với các văn bản được Shumin lập trình từ nội dung do người tham quan cung cấp hoặc máy tạo sinh có thể bổ sung nội dung mới, từ đó tạo nên những loạt phản hồi mang đậm chất thơ. Văn bản này cũng trước những âm thanh ghi lại từ các buổi đọc sách, trình diễn DJ và nhạc sống được tổ chức tại căn phòng. Điều chúng tôi mong muốn là kết nối thi ca, lời nói, nhịp điệu và âm nhạc, đồng thời tận dụng các phương tiện truyền thông để đưa ngôn từ vào không gian triển lãm theo cách trực quan và sống động hơn, thay vì chỉ xuất hiện dưới dạng văn bản tĩnh.
Đó đều là những thử nghiệm giàu tính liên tưởng. Vậy bà làm thế nào để mang trải nghiệm tương tự đến với khán giả thuộc đa dạng nhóm nhu cầu tiếp cận khác nhau? Khi thiết kế văn bản theo hướng bao hàm, đâu là những yếu tố cần được cân nhắc?
Không gian triển lãm có khả năng đặc biệt đó là vượt ra khỏi thế giới thường nhật vốn thiên về thị giác bằng cách khơi gợi thính giác, xúc giác, thậm chí cả khứu giác. Tôi muốn trở lại với Living Galleries, dự án đầu tiên của tôi tại GSM Studios, bởi đây là một dự án cho phép tôi thử nghiệm thiết kế triển lãm đa giác quan.

Khoảng một năm sau khi triển lãm khai mạc, Hiệp hội Người khiếm thị Singapore đã liên hệ với tôi. Họ mong muốn những khách tham quan trẻ khiếm thị có thể tự mình định hướng trong các phòng trưng bày một cách độc lập hơn, thay vì phải phụ thuộc vào hướng dẫn viên hoặc người đi cùng. Bởi triển lãm vốn giàu tính đa giác quan, họ cho rằng đây là một nền tảng thuận lợi để giúp các bạn phát triển khả năng tiếp cận. Khi ấy, kinh nghiệm của tôi trong lĩnh vực này còn hạn chế và tài liệu chuyên môn cũng chưa nhiều, vì vậy tôi trực tiếp làm việc với trẻ em khiếm thị để hiểu cách các em định hướng trong không gian và trải nghiệm triển lãm.
Thách thức của bài toán tiếp cận nằm ở việc nhận ra rằng những người có khả năng khác nhau cũng sở hữu những thế mạnh khác nhau. Thay vì thiết kế cho một kiểu người dùng duy nhất, tôi tin rằng một cách tiếp cận thực sự đa giác quan có thể đáp ứng nhiều phương thức trải nghiệm riêng biệt, tương tự như trong thế giới tự nhiên vốn luôn được bao quanh bởi vô vàn kích thích giác quan phong phú mà không gian triển lãm cũng nên hướng tới tái hiện.
Thực hiện: Weiqin
Biên dịch: Art Nation


