Read the English version here.
Những tham chiếu đến cổ thi bắt đầu xuất hiện trong tuyên ngôn sáng tác của anh rõ rệt và dày đặc từ sau loạt tranh Vòng tròn thời gian (2016–nay), cũng đánh dấu thời điểm anh chuyển dịch sâu hơn vào địa hạt trừu tượng. Dường như tồn tại một sự tương thích nhất định về không gian tâm tưởng mà thi ca và trừu tượng mở ra cho anh?
Thực vậy, với quá trình dịch chuyển dần sang trừu tượng trong hành trình sáng tác, tôi đã nhận thấy mối tương giao thật đặc biệt giữa hai loại hình này.
Cổ thi giúp tôi kết nối được những vùng không gian và văn hóa đã mất. Dường như dòng chảy của lịch sử và văn hóa vẫn đang tiếp tục, sống vượt thời gian trong từng lớp không gian và vẻ đẹp ngôn từ của cổ thi. Mọi vẻ đẹp vẫn còn nằm lại ở đó vẹn nguyên, chỉ có thời gian dịch chuyển và bản thân chúng ta đang sống trong một thời đại nhiều thay đổi. Đọc và khám phá thi ca, tôi nhận thấy những khái niệm như “trừu tượng” hay “tối giản” trong hội họa ngày nay đã sớm có sẵn trong thi ca cổ rồi.
Will Durant, sử gia người Mỹ mà tôi yêu thích đã viết một đoạn trong cuốn sách Lịch sử văn minh Trung Hoa, lược trích trong chương “Thời đại các thi nhân” như sau: “Người ta bảo rằng thi nhân đời Đường giữ một địa vị quan trọng trong sự đào tạo thanh niên Trung Hoa và không một người Trung Hoa nào hơi có học thức mà không thuộc nhiều thơ của họ. Nếu quả vậy thì đọc thơ cùng tìm hiểu tư cách của Lý Bạch và Đỗ Phủ, chúng ta sẽ hiểu được tại sao đa số giới trí thức Trung Hoa là nghệ sỹ và triết nhân.”¹

Dường như đã tồn tại sẵn ở đó đồng thời cả hai khái niệm trên trong văn hóa Á Đông. Các thuật ngữ trong nghệ thuật mà chúng ta thấy ngày nay đôi khi chỉ là cách diễn dịch của lịch sử nghệ thuật hiện đại phương Tây trong hành trình phát triển. Tôi vẫn luôn cho rằng, người Á Đông đã sớm hình thành những khái niệm về trừu tượng của riêng họ thông qua tính ước lệ, cách quan sát thiên nhiên, cảnh vật, đời sống tâm linh và trong nghệ thuật và đời sống. Yếu tố trừu tượng như chúng ta thấy trong thế giới hiện đại ngày nay, đã nằm sẵn trong nội tại của thi ca, văn chương và thư họa, gốm cổ, v.v. Ở một góc nhìn khác, tôi cho rằng quan niệm và hành trình nghệ thuật trừu tượng của người Á Đông vẫn luôn có điều khác biệt với nghệ thuật trừu tượng của phương Tây. Tuy nhiên, luôn có những sự giao thoa thú vị của cả hai nền văn minh trên trong nhiều thời điểm và lẫn giữa nhiều tác giả trong chiều dài của lịch sử.
Trở lại câu hỏi của bạn, sự tương thích trong không gian tâm tưởng và giai đoạn dịch chuyển sang trừu tượng này vừa là một chặng đường, song cũng là kết quả thú vị của thú yêu thích đọc thi ca, văn chương cổ của Việt Nam và Trung Hoa. Song hành với việc đọc và thú sưu tập cổ vật, mỗi hành trình khám phá các nền văn hóa khác nhau ở các quốc gia châu Á và trên thế giới là những điều tôi hướng tới trong cuộc sống cá nhân.
Khi đặt hội họa vào đối thoại cùng thi ca, những cân nhắc của anh về hình thức, chất liệu cũng như kỹ thuật đã thay đổi ra sao theo chiều dài thực hành?
Trong thi ca cổ, mỗi tứ, mỗi ý thơ đã gửi gắm trong đó đủ cả vạn vật rồi. Con người, cỏ cây, hoa lá, chim muông, núi non, mây trời, v.v., mọi thứ đều hòa hợp. Đó cũng là tiếng lòng, là lời tự sự mà cổ nhân chiêm nghiệm và trao gửi. Sở dĩ chúng ta cảm được thời gian và không gian nối dài ra, có lẽ là nhờ có tinh thần thi ca, văn chương và âm nhạc, thư họa cổ truyền lại. Trong lịch sử Á Đông, một thi sỹ cũng đồng thời là một họa sỹ, văn nhân, thư pháp gia kiêm chính trị gia. Ở đó, họ xem nghệ thuật là một cách để tu dưỡng tinh thần. Vài năm về trước, trong một dịp đón năm mới tại Tây Hồ ở Hàng Châu (Trung Quốc), tôi đứng trước mặt hồ nước tĩnh lặng, bóng chiều in hình cầu đá và hàng liễu rủ. Tiết chiều muộn se lạnh, giữa làn gió ngày cuối năm, lòng tôi chợt cảm nhớ những dòng thơ về cảnh sắc Tây Hồ của Bạch Cư Dị:
“Sườn non bích trải: tùng muôn cụm
Đáy nước châu gieo: nguyệt một vành
Lúa mới dập dờn vuông đệm biếc
Bồ non phơ phất dải là xanh
Hàng Châu chưa bỏ đi cho dứt
Một nửa vì đây vướng vít tình.”²
Bạch Lạc Thiên³ từng sống ở Hàng Châu trong quãng thời gian khoảng 2 năm khi ông làm quan thứ sử. Nơi này, thi sỹ đã từng để lại nhiều dấu ấn và công trạng. Còn tôi, nhớ lại đến nay quãng thời gian gắn bó với Tây Hồ ở Hà Nội đã ngót nghét gần 20 năm, tôi bỗng dưng liên tưởng tới hai vùng đất khác nhau cùng gắn với cái tên Tây Hồ và đều đọng lại trong tôi nhiều cảm xúc về cuộc sống và hành trình nghệ thuật. Có lẽ cảnh sắc vùng đất này đã mang lại cho nghệ thuật của tôi nhiều thay đổi. Cảm hứng từ thi ca trong nghệ thuật đến một cách rất tự nhiên trên mảnh đất còn đọng lại nhiều dấu tích của văn chương và lịch sử.

Trong một trưng bày cá nhân gần đây nhất tại không gian Kỳ Lân’s House ở Hà Nội, tôi có sử dụng gợi ý một tứ thơ trong một bài thơ lục bát ca ngợi cảnh sắc Tây Hồ của Dương Khuê, một tài danh thi ca và là danh sỹ Bắc Hà sống vào cuối thế kỷ 19 cho tựa đề cuộc trưng bày có tên gọi Mịt mù khói tỏa ngàn sương. Với triển lãm cá nhân trước đó vào năm 2022 tại không gian ngôi nhà cổ nửa sau thế kỷ 19 do Galerie Quỳnh tổ chức ở Sài Gòn, tựa đề Kìa non non, nước nước, mây mây cũng khởi phát từ một câu thơ trong bài Hương Sơn phong cảnh ca của danh sỹ Chu Mạnh Trinh sống vào cuối thế kỷ 19.
Ngoảnh đầu trông lại chặng đường nghệ thuật của cá nhân tôi trong khoảng 10 năm trở lại đây, tôi chợt nhận ra rằng nguồn cảm hứng chủ đạo lại luôn là thi ca.
Như đã chia sẻ ở trên, ngôn từ và không gian trong thi ca cổ là cách tôi có thể kết nối được yếu tố phi thời gian trong sáng tạo nghệ thuật. Cất lời đọc một tứ thơ, những câu thơ đó sẽ mở ra cho chúng ta một vùng không gian, cách nghĩ, phương thức giải quyết hình thức của tác phẩm và bằng một cách nào đó đã gợi ý cách thức trưng bày cho một triển lãm. Trong nghệ thuật thị giác, hội họa là sự trình diễn phong phú và đa dạng của các hình thức khác nhau về đặc điểm, yếu tố, vật liệu, ngôn ngữ. Chúng ta có thể tìm ở thi ca nguồn cảm hứng, vẻ đẹp ngôn ngữ, nhưng tránh nhầm lẫn về mặt hình thức giữa hai thể loại. Nghệ thuật thị giác vẫn có ngôn ngữ và đặc điểm riêng của chính nó.
Anh có thể chia sẻ một ví dụ về ảnh hưởng của các tứ thơ lên cách anh tư duy cấu trúc không gian triển lãm trong quá khứ?
Từ phom dạng tấm bia đá cổ của những tác phẩm đầu tiên được trưng bày trong triển lãm cá nhân của tôi với Galerie Quỳnh có tên gọi Phong Cảnh / Tâm Cảnh, sau khoảng 3 năm tiếp tục khám phá, nghiên cứu hình thức, vật liệu, bề mặt và phom dạng, thì các tác phẩm cho triển lãm Kìa non non, nước nước, mây mây đã hình thành. Bài thơ tứ tuyệt của Lý Bạch, Độc tọa Kính Đình sơn đã mở ý cho tôi hình thức bài trí các tác phẩm trong không gian:
“Chim bầy vút bay hết
Mây lẻ đi một mình
Nhìn nhau không thấy chán
Chỉ có núi Kính Ðình.”⁴
Tại ngôi nhà cổ số 29 Tôn Thất Thiệp, các tác phẩm được xếp thành hai hàng dọc tựa như từng lớp núi xa gần; phần khung mica phía sau lưng từng tác phẩm là câu thơ cổ được khắc laser chìm với hai ngôn ngữ bản gốc và bản dịch. Nhờ khả năng xuyên thấu của vật liệu lụa tự nhiên trên những phần chi tiết được giữ lại ở mặt trước, kết hợp với vật liệu mica được mài mờ phía sau, ánh sáng và màu sắc của tác phẩm phía mặt sau dịch chuyển. Chúng chuyển động chậm rãi không gian trưng bày theo sự thay đổi của hướng ánh sáng tự nhiên bên ngoài.

Là một họa sỹ đương đại, anh lại tìm về thơ cổ, sưu tập những vật cổ, đặc biệt là “những thứ không còn toàn vẹn”, như anh từng chia sẻ. Sự cộng hưởng của hội họa trên nền chiêm nghiệm thi ca mở ra những chiều kích gì để anh hiểu hơn về thời gian và di sản?
Nhà thơ Mỹ Naomi Shihab Nye viết những câu mở đầu của bài thơ Lòng tử tế như sau:
“Trước khi biết lòng tử tế là gì
Bạn phải mất đi nhiều thứ
Cả tương lai bỗng chốc hòa thành không
Như muối tan trong bọt nước.
Điều gì trước đây bạn nắm được trong tay,
Đếm lui đếm tới mỗi ngày, nâng niu gìn giữ:
Tất cả đều phải ra đi […].”⁵
Để nhận ra được nhiều điều trong cuộc đời này, đôi khi “bạn phải mất đi nhiều thứ”. Tôi thấm thía những gì mà Naomi viết ra. Thời gian luôn là thứ khiến chúng ta cảm thấy nuối tiếc nhiều nhất. Trên nền thi ca, vẻ đẹp lộng lẫy của ngôn từ cùng với những giá trị vượt thời gian khiến cho chúng ta tin rằng, đó là những niềm an ủi. Và nhờ đó, sự cao quý của thi ca khiến cho ta cảm thấy biết ơn và đáng sống hơn.
Cặp vợ chồng sử gia Will và Ariel Durant đã viết những dòng xác đáng về lịch sử: “Kiến thức về lịch sử dạy cho ta biết rằng văn minh là một công trình mà nhiều người hợp tác mới thành, hầu như mọi dân tộc đều hợp sức góp phần tạo ra nó; nó là di sản và cũng là món nợ chung của tất cả chúng ta”.⁶ Di sản là thứ đôi khi không còn thuộc về một dân tộc, một quốc gia, Will và Ariel Durant đã nói thay ta những điều trên. Tôi cho rằng, hội họa và thi ca trong văn hóa Á Đông luôn là hai chiều cùng song hành. Ngày nay chúng ta thấy mình thật may mắn và biết ơn tiền nhân, khi mà ta có thể được tiếp cận một cách đầy đủ và phong phú di sản của văn chương và thi ca trong nhiều thời kỳ khác nhau của lịch sử.

Người xưa gọi thi sỹ là những bậc kỳ tài trong việc “tức cảnh sinh tình”. Thực hành vẽ phong cảnh của anh phản chiếu không chỉ cuộc gặp gỡ với cảnh sắc, mà với cả những âm vang trong cái “tình” ấy của Tản Đà, Chu Mạnh Trinh, hay Lý Bạch, Thôi Hiệu, v.v. Chắc hẳn nhiều độc giả sẽ tò mò, giữa “thi” và “ảnh”, cảm hứng nào đến trước và chi phối lựa chọn còn lại trong quá trình sáng tác của anh?
Tôi cho rằng cả hai xảy ra tức thời trong cùng một không gian và thời điểm. “Thi” và “ảnh” là hai yếu tố song hành và bổ sung lẫn cho nhau. Khi cá nhân chúng ta có những phút giây may mắn lặng mình trước khung cảnh, ta đã thấy thi ca hiện ra trong đó rồi và ngược lại. Hơn một ngàn năm trước, danh sỹ Tô Đông Pha thời nhà Tống của Trung Hoa từng chẳng nói khi nhận xét về thơ của Vương Duy: “Vị Ma Cật⁷ chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi” (Thưởng thức thơ của Vương Duy, trong thơ có họa; ngắm họa của Vương Duy, trong họa có thơ).”
Trong thập kỷ đầu thực hành, các sáng tác của anh thường mang góc nhìn thời sự, phản ánh sự va chạm của các cấu trúc truyền thống trong xã hội hiện đại như trong loạt tác phẩm Cô dâu & Chú rể (2004–2011) hay Không phải kí ức (2008–2010). Thế nhưng, các cấu trúc ấy dần mờ đi trong Phong cảnh Việt Nam (2010–2014), rồi hoàn toàn nhường chỗ cho những biểu hiện trừu tượng, nội tâm và “thi vị” hơn trong 10 năm gần đây. Anh dự định sẽ nối dài thực hành của mình như thế nào trong tương lai?
Mọi thứ đều ở phía trước, tôi luôn tò mò khám phá, chờ đợi những điều mới mẻ và nhiều thử thách trong hành trình này.
Tôi xin phép được kết thúc câu hỏi cuối của phỏng vấn với hai câu sau cùng trong bài thơ của Lý Bạch:
“Nhìn nhau không thấy chán
Chỉ có núi Kính Ðình.”
Đi, có lẽ cũng là để trở về trong chặng đường dài của nghệ thuật cá nhân. Khi chúng ta vượt qua núi, có lẽ cũng chỉ thấy núi mà thôi.
Cảm ơn họa sỹ Hà Mạnh Thắng!
Thực hiện: Nhật Anh
Biên dịch: Art Nation
[1] Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB Hồng Đức (2023), tr. 175.
[2] Bạch Cư Dị, Khương Hữu Dụng dịch, “Xuân đề hồ thượng”, trong Thơ Đường, NXB Văn hóa (1962), tr. 245.
[3] Biểu tự của nhà thơ Bạch Cư Dị.
[4] Lý Bạch, Phạm Lê Duyên dịch, Độc tọa Kính Đình sơn, Thi Viện.
[5] Nguyễn Đức Tùng, Thơ cần thiết cho ai, NXB Hội nhà văn (2015), tr. 138.
[6] Ariel Durant và Will Durant, Minh Tuệ dịch, Những bài học lịch sử, NXB Thế Giới (2020), tr. 46.
[7] Biểu tự của nhà thơ Vương Duy.


