Read the English version here.
Trong hội họa Việt Nam hậu hiện đại, Trần Lưu Hậu (1928–2020) là một trường hợp đặc biệt: ông thuộc thế hệ nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến, được đào tạo trong môi trường hàn lâm và từng gắn bó lâu dài với hệ thống giáo dục mỹ thuật chính quy, nhưng càng về sau lại càng quyết liệt tìm kiếm một ngôn ngữ hội họa tự do, chủ quan và giàu tính biểu hiện. Nếu những sáng tác giai đoạn đầu của ông còn gắn với hiện thực, đưa tên tuổi của ông vào nhóm bộ tứ kháng chiến Nhân-Hòa-Hậu-Kiệm, thì ở giai đoạn cuối, hình hài dần được giản lược, màu sắc và nét bút trở thành những lực lượng độc lập, đưa ông trở thành cánh chim đầu đàn của hội họa trừu tượng miền Bắc Việt Nam sau Đổi Mới.
Từ bộ tứ mỹ thuật kháng chiến…
Sinh năm 1928 tại Ninh Bình, Trần Lưu Hậu thuộc thế hệ họa sỹ đầu tiên được đào tạo trong thời kỳ kháng chiến. Ngay từ năm 1945, khi chiến tranh nổ ra, ông đã tham gia Việt Minh ở khu Cầu Giấy và Tự vệ thành khu Ðống Ða, Hà Nội. Năm 1946, ông lên chiến khu Việt Bắc, trở thành cán bộ trong Ban Tuyên truyền Ty Thông tin Vĩnh Phúc. Tại Việt Bắc, với năng khiếu hội họa, Trần Lưu Hậu theo học khóa Mỹ thuật kháng chiến (1950–1953) do Tô Ngọc Vân phụ trách. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc, ông được nhà nước cử đi Moskva học tiếp tại Học viện Mỹ thuật Surikov (1955–1962) chuyên ngành trang trí sân khấu. Trở về Việt Nam, Trần Lưu Hậu giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1962–1988) và lần lượt giữ các vai trò quan trọng trong Hội Mỹ thuật Việt Nam: Ủy viên Ban Chấp hành, Chủ tịch Hội đồng Chuyên ngành Đồ họa khóa II (1983–1989), và Ủy viên Ban Thư ký, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật khóa III (1989–1994). Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Những năm đầu trong sự nghiệp, Trần Lưu Hậu chủ yếu vẽ hiện thực, với các đề tài kháng chiến, đời sống, miền núi, phong cảnh và sinh hoạt. Những tác phẩm như Bộ đội về bản Mường (1976 – Giải B Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc), Thuyền và núi (1978, bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), hay Đồng bào Mèo thêu (1982–1985, bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) cho thấy ông là một trụ cột trong dòng chảy của nền mỹ thuật hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa hình thành mạnh mẽ ở Việt Nam giữa thế kỷ 20. Thập niên 1970–1980 cũng là giai đoạn Trần Lưu Hậu tham gia nhiều dự án thiết kế sân khấu ở khắp cả nước, với Huy chương Vàng về thiết kế mỹ thuật sân khấu trong Hội diễn Sân khấu Chuyên nghiệp Toàn quốc với vở Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Cùng với Lưu Công Nhân, Lê Huy Hòa và Nguyễn Trọng Kiệm, Trần Lưu Hậu được liệt vào bộ tứ tiêu biểu và xuất sắc của thế hệ họa sỹ kháng chiến.
…Đến bứt phá của trừu tượng hậu Đổi Mới
Từ cuối thập niên 1980, đặc biệt trong không khí đổi mới của đời sống nghệ thuật Việt Nam, hội họa Trần Lưu Hậu bắt đầu chuyển hướng rõ rệt. Vẫn là những đối tượng tưởng như rất quen thuộc: biển, phố phường, cây cối, hoa, và thiếu nữ, nhưng ngôn ngữ biểu hiện đã được chuyển dịch từng bước từ hiện thực sang bán trừu tượng rồi trừu tượng. Trần Lưu Hậu trở thành một trong những nhân vật tiên phong trong trào lưu này. Thập niên 1990–2000, Trần Lưu Hậu bước vào giai đoạn sung mãn nhất trong sáng tác. Ông liên tục đi điền dã khắp mọi miền đất nước, từ Cát Bà đến Vũng Tàu, Đà Lạt đến Sa Pa, và bắt đầu tổ chức nhiều triển lãm để giới thiệu tác phẩm của mình rộng rãi tới công chúng, và được giới mộ nghệ trong và ngoài nước đặc biệt ưa chuộng.



Điều thay đổi không nằm ở cái ông vẽ, mà nằm ở cách ông nhìn và cách ông vẽ. Những năm 2003–2005 là giai đoạn bản lề, định hình ngôn ngữ thị giác trừu tượng đặc trưng của Trần Lưu Hậu. Tiêu biểu nhất có lẽ là tác phẩm acrylic trên toan mang tên Công viên 15¹, với khổ đại 160 × 405 cm, có lẽ là bức tranh có kích cỡ lớn nhất trong sự nghiệp của Trần Lưu Hậu. Đây là tác phẩm verdette trong triển lãm solo vào tháng 4 năm 2025 tại nhà triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội.
Có lẽ, chuyên môn về thiết kế sân khấu đã góp phần nhào nặn nên ngôn ngữ trừu tượng của Trần Lưu Hậu. Công viên 15 được sáng tác như một sân khấu cảnh quan lớn, hút khán giả vào không gian của hình và sắc. Hiện thực được giản lược thành ấn tượng của những thân cây, tán cây, cùng ánh sáng và chi tiết xen kẽ lá cây. Đường nét và bút lực trở nên dài, mạnh, dứt khoát và phóng khoáng. Màu sắc với palette nguyên bản được đặt cạnh nhau với một độ tự tin hiếm thấy, tương phản với cường độ cao và tần suất dày, không còn phục tùng ánh sáng tự nhiên mà tự tạo ra cảnh huống. Và thế là, phong cảnh chỉ còn là “cái cớ” để tạo nên trạng thái thị giác. Nét bút không còn chỉ làm nhiệm vụ xác định đường viền của vật thể mà trở thành dấu vết trực tiếp của cảm xúc và chuyển động. Tấm toan đại trở thành sân khấu cho những cảm xúc và chuyển động đó. Hội họa từ đó đi từ mô tả sang biểu hiện.



Trần Lưu Hậu không cần phải hoàn toàn “trừu tượng” để đạt tới tinh thần trừu tượng. Cái quan trọng trong tranh ông là sự giải phóng của hội họa khỏi nghĩa vụ minh họa. Nhìn lại, hành trình nghệ thuật của Trần Lưu Hậu cũng có thể được nhìn như một hành trình giải phóng cá nhân. Ông trưởng thành trong một thời kỳ mà hội họa Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của những yêu cầu về hiện thực và chức năng xã hội. Nhưng thay vì phủ nhận quá khứ, ông dần mở rộng giới hạn của nó từ bên trong. Chính vì vậy, Trần Lưu Hậu thường được nhắc đến như một trong những nghệ sỹ tiên phong trong giai đoạn hậu Đổi Mới, góp phần phá bỏ định kiến rằng thế hệ họa sỹ kháng chiến chỉ có thể gắn với một ngôn ngữ tạo hình bảo thủ nhất định. Và bản lĩnh dấn thân đó đã mở đường và truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ họa sỹ sau này tìm tòi những lối đi cho riêng mình. Có lẽ vì vậy mà khi Trần Lưu Hậu qua đời năm 2020, Lương Xuân Đoàn đã đại diện cho Hội Mỹ thuật gọi ông là “Một người thầy lớn của mỹ thuật Việt Nam”.²
Tác phẩm Công viên 15 sẽ xuất hiện tại phiên ngày về Nghệ thuật Hiện đại của Sotheby’s Hồng Kông ngày 29.09.2026 sắp tới.
Thực hiện & biên dịch: Ace Lê
[1] Trần Lưu Hậu (2005), NXB Mỹ Thuật, tr. 20–21.
[2] Lương Xuân Đoàn, “Một người thầy lớn của mỹ thuật Việt Nam”, Báo Nhân Dân (06.03.2020).


