Thảo nên một chốn riêng

Thảo nên một chốn riêng

Là một trong những gương mặt tiên phong của nghệ thuật đương đại Việt Nam thời kỳ hậu Đổi Mới, nghệ sỹ Nguyễn Quang Huy (sn. 1971) ghi dấu ấn qua những thực hành thể nghiệm đầy táo bạo khi đưa văn bản và ký tự phi ngôn ngữ vào không gian thị giác. Trong cuộc trò chuyện này, anh mở ra những chiêm nghiệm về bối cảnh nghệ thuật thời kỳ đầu hội nhập cùng tâm thế của người nghệ sỹ thế hệ mới trước sự va đập mạnh mẽ từ các làn sóng văn hóa phương Tây.

Read the English version here.

Ngay khi còn là sinh viên tại trường Đại học Mỹ thuật tại Hà Nội, anh đã tham gia triển lãm New Story – New Artists (1995) với loạt tác phẩm Không đề tại Salon Natasha. Điều gì đã dẫn anh đến quyết định bắt đầu sử dụng văn bản làm chất liệu và phương thức biểu đạt trong bối cảnh nghệ thuật thể nghiệm vốn chưa có nhiều sự cổ vũ?

Giữa thập niên 1990, cùng với xu hướng hội nhập của cả nước sau Đổi mới và sự xuất hiện của Internet, nguồn cảm hứng nghệ thuật hiện đại và đương đại Tây phương đổ bộ vào Việt Nam rất dồn dập. Lúc này, một giảng viên người Đức công tác tại Trường Đại học Mỹ thuật là cô Veronika Radulovic, đã mang nhiều tài liệu mỹ thuật hiện đại và đương đại quốc tế về để giới thiệu và giảng dạy. Tôi còn nhớ vào khoảng những năm 1993–1994, trường cũng tổ chức những buổi giao lưu với các hội nhóm mỹ thuật nước ngoài, thực hiện những cuộc triển lãm với những tác phẩm rất mới lạ mà ở Việt Nam, kể cả qua sách vở, tôi cũng chưa từng được nhìn thấy.

Chúng tôi trưởng thành trong một nền mỹ thuật như vậy, dù so với thế giới có lẽ là lạc hậu và ít nhiều bảo thủ, nhưng cũng đủ để thổi bùng mong muốn thử nghiệm điều gì đó mới mẻ. Một trong những đặc điểm cốt lõi của nền nghệ thuật phương Tây là đi vào tính cá nhân của mỗi con người. Do ảnh hưởng ấy, tôi bắt đầu tự vấn bằng câu hỏi: mình là ai, từ đâu đến và ở đâu trong những vận động chung của thế giới? Bản thân tôi sinh ra tại một ngôi chùa tên Chùa Thầy, vì vậy Phật giáo đã trở thành cội nguồn cho những tiếp xúc của tôi với mỹ thuật. Trong khi tìm hiểu về lịch sử Việt Nam, nghệ thuật tôn giáo và Phật giáo nói riêng, tôi va chạm với chữ Hán và chữ Hán-Nôm – những ký tự mà đối với tôi là trừu tượng và chứa đựng những ký ức văn hóa bị đứt gãy. Lúc bấy giờ, nền mỹ thuật thế giới cũng đang nổi cộm các xu hướng thể nghiệm đưa thông tin và ký hiệu vào trong thực hành sáng tác. Khi ấy, tôi coi mình là người cảm thụ, muốn tìm hiểu xem những dòng chữ khi không thể giải mã sẽ phản ánh giá trị hay năng lượng ở tầng nào.

Thảo nên một chốn riêng
Nguyễn Quang Huy, Vô đề (2001), 80 x 60 cm, mực, màu nước trên giấy dó. Bộ sưu tập tư nhân.

Trên thế giới, làn sóng thực hành dựa trên văn bản và ký tự phi ngôn ngữ đã hình thành và lan tỏa từ những năm 1960. Những làn sóng quốc tế đó có ảnh hưởng gì đến thực hành của anh lúc bấy giờ không?

Tôi và bạn bè khi ấy đều rất quan tâm, yêu thích các tác phẩm khởi sinh của nghệ thuật ý niệm phương Tây, ví dụ như Dada đầu thế kỷ 20, hay những trào lưu mỹ thuật, âm nhạc avant-garde¹ từ những năm 1930 đến 1950. Tuyên ngôn của các nghệ sỹ này đơn giản nhưng lại mang yếu tố sáng tạo cá nhân rất mạnh. Trường Đại học Mỹ thuật rất cởi mở, tạo nhiều cơ hội giao lưu với các họa sỹ từ Úc và Đức, trong đó có cô Veronica Radulovic. Thầy Nguyễn Lương Tiểu Bạch cũng là một người thầy thường xuyên trao đổi và cởi mở với sinh viên, giúp chúng tôi phát triển thêm về tư duy thực hành nghệ thuật. Đó là may mắn mà không nhiều sinh viên tại các trường khác có được vào thời điểm đó. Hầu hết nghệ sỹ bên ngoài chỉ được xem qua vài quyển sách, không trực tiếp như cách chúng tôi xem tài liệu trình diễn qua băng đĩa. Sự tiếp cận này diễn ra trong thời gian ngắn, khoảng độ 2 năm từ 1995 đến 1997.

Khác với những thực hành cùng thời, ký tự hiện diện trong các tác phẩm của anh không nhằm khơi gợi vấn đề trực diện trên mặt chữ, mà vận động mềm mại hơn trong những vòng tròn đồng tâm hay hình xoắn ốc liên tục. Đây có phải là cách anh gửi gắm quan điểm bằng một tâm thế của riêng mình?

Thời điểm đó, đứng trước những thay đổi trong đời sống xung quanh, ý tưởng đến với tôi một cách ồ ạt, đan xen và luôn xoay vần. Tốc độ của suy nghĩ diễn ra nhanh hơn tốc độ của chữ viết, hình ảnh, hay tất cả những gì mà ta muốn vẽ hay có thể vẽ. Tôi nghĩ nếu không thể chất chứa hết những suy nghĩ ấy vào một bức tranh thì mình cứ viết nó ra vậy. Thế nhưng, vì ngôn ngữ mỹ thuật bản chất vẫn là ngôn ngữ của cảm nhận thị giác, tôi không muốn người xem đọc chữ mà muốn họ cảm nhận được dòng chảy suy nghĩ qua bố cục, hình khối và đường nét. Tôi chọn cách viết chữ không dấu và liền mạch, phản ánh sự dồn dập trong tâm tưởng của chính mình.

Thảo nên một chốn riêng
Nguyễn Quang Huy, Vô đề (2001), 80 x 60 cm, mực, màu nước trên giấy dó. Bộ sưu tập tư nhân.

Cũng chính vì nguồn năng lượng dồi dào, dư thừa ấy mà tôi tìm về sự cân bằng trong các pho tượng Phật. Tôi men theo đường đi của con chữ theo dáng ngồi thiền định của một vị Phật, tạo ra những nét xoắn ốc theo dòng suy nghĩ liên tục chuyển dịch sâu hơn vào bên trong, cứ như vậy tiến vào tâm của bố cục cho đến khi không còn chỗ để viết tiếp thì thôi. Tôi quan niệm rằng nghệ thuật luôn có một phần “thần” bên cạnh phần “nhân”. Nếu phần “nhân” thuộc về kỹ năng có thể rèn luyện, thì phần “thần” lại là sự bộc lộ tự nhiên mà chính nghệ sỹ cũng không kiểm soát được. Cái “thần” ấy cũng là một yếu tố cốt lõi của mỹ thuật phương Đông.

Các ký tự xuất hiện trong chuỗi tác phẩm Không đề được anh thực hiện bằng bút lông thư pháp trên nền giấy dó. Anh có thể chia sẻ lý do tại sao anh lại đưa ra những lựa chọn chất liệu ấy, và chúng ảnh hưởng đến thực hành của anh ra sao?

Thời sinh viên, sơn dầu là chất liệu chính để vẽ tranh theo trường quy nghệ thuật phương Tây mà tôi được học tại Đại học Mỹ thuật. Thế nhưng, dù là sơn dầu hay sơn mài – mà đặc biệt là sơn mài – cũng đều rất tốn kém. Khi ấy, tôi và bạn bè cũng mang tâm thế muốn phản kháng và bứt phá ra khỏi rào cản khuôn mẫu của mỹ thuật hàn lâm. Do chúng tôi không có nhiều điều kiện để trang bị, những công cụ dễ tìm nhất ở thời điểm đó chính là giấy dó, mực nho và màu nước. Những lựa chọn này vô hình trung lại phù hợp với tinh thần phương Đông và Phật giáo trong thực hành của tôi.

Tuy không phải là một Phật tử, cũng không am hiểu thư pháp Hán-Nôm, tôi lại tìm thấy ở giấy dó và mực nho một sự giải phóng về phần “thần”. Giấy dó thủ công vốn rất khó kiểm soát nếu muốn vẽ tả thực chính xác như lối vẽ Phục Hưng của phương Tây, nhưng lại cực kỳ phù hợp với sự phóng khoáng, tự do trong tâm trí. Đối với những dòng suy nghĩ mà tôi không muốn người khác đọc được, tôi chỉ cần miết nhanh nét bút một chút là mực nhòe đi, chữ viết lập tức đứt gãy, không còn có thể giải mã. Vì đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của các làn sóng avant-garde phương Tây với những câu hỏi hướng vào cá nhân, lối tiếp cận này cũng cho phép tôi đối diện với chính mình, không gì có thể đan xen được.

Thảo nên một chốn riêng
Nguyễn Quang Huy, Vô đề (1999), 70 x 50 cm, mực, màu nước trên giấy dó. Bộ sưu tập tư nhân.

Cũng trong giai đoạn đó, anh hoạt động sôi nổi cùng nhóm đồng nghiệp gồm các nghệ sỹ Trương Tân, Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Thành, v.v. Anh có còn nhớ những cuộc trò chuyện, những dịp trao đổi ý tưởng nào đã định hình nên sắc thái biểu đạt rất đặc thù này trong thế hệ tiên phong khi ấy?

Thời ấy, chúng tôi thường tụ tập cùng nhau đi đây đó, lân la ở các quán nước bàn chuyện về nghệ thuật. Chúng tôi không trao đổi trực diện, chỉ nhẹ nhàng đề cập đến vấn đề sáng tác để nâng cao thẩm mỹ, cảm thụ nghệ thuật cho nhau, thảo luận xem những xu hướng nào đang sáng và có thể đi xa hơn. Trong nghệ thuật đương đại, những tiêu chuẩn như phải “đúng hình”, “đúng ánh sáng” đã bị phá bỏ, không thể đem ra bàn đúng sai hay khuyên nhau. Dù không nói ra, nhưng chúng tôi hầu như đều ngầm hiểu chuyện sáng tác là chốn riêng tư. Thế nhưng vì tiếp xúc hằng ngày nên từ trong không khí, chúng tôi đều chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, giống như một mạch ngầm. Mỗi lần đi chơi, chúng tôi lại bày màn trình diễn này, thử nghiệm ý tưởng kia. Lúc ấy, tất cả những điều này với chúng tôi đều rất mới, không có công nghệ để lưu giữ hình ảnh, cũng chẳng để hướng đến một khán giả cụ thể nào – mọi việc đều xuất phát từ ý thích và mong muốn khai mở khả năng sáng tạo của bản thân. Nhìn lại, đó là một giai đoạn hạnh phúc, anh em chơi với nhau, đặt tâm mình vào nghệ thuật. Việc đưa con chữ vào sáng tác của chúng tôi là sự bộc lộ chân thực nhất về tính cách nghệ sỹ của từng người.

Cũng chính từ những mối nhân duyên bạn bè cùng các cuộc giao lưu với nghệ sỹ và giảng viên nước ngoài mà tôi biết đến và tham gia triển lãm tại Salon Natasha. Được thành lập bởi cặp vợ chồng là nghệ sỹ Vũ Dân Tân và vợ anh là Natasha Kraevskaia, salon này là không gian hiếm hoi lúc ấy trưng bày nghệ thuật đương đại và tôn vinh các sáng tác phá cách cũng như nhãn quan riêng của người nghệ sỹ.

Thảo nên một chốn riêng
Nguyễn Quang Huy, Vô đề (1999), 70 x 50 cm, mực, màu nước trên giấy dó. Bộ sưu tập tư nhân.

Những năm gần đây, trong bối cảnh bão hòa thông tin toàn cầu, các thực hành của anh lại không còn nhiều sự xuất hiện của ký tự như trong giai đoạn đầu mà quay về với hình ảnh thuần túy hơn. Điều này phản ánh sự biến chuyển trong cách anh tiếp nhận và phản hồi trước thế giới, hay vì một lý do nào khác?

Chắc chắn là có sự biến chuyển, nhưng diễn ra một cách vật lý, mềm mại mà không khiến chính mình nhận ra sự khác biệt. Xuyên suốt các giai đoạn sáng tạo, tôi vẫn lấy yếu tố cá nhân làm gốc rễ bằng cách đi vào thế giới nội tâm thay vì hướng ra bên ngoài, như một người không ngừng đào sâu vào chính mình.

Nếu ngày trước ký tự xuất hiện trong các thực hành của tôi là để giải tỏa những dòng suy nghĩ và nguồn năng lượng mạnh mẽ thời tuổi trẻ, thì bây giờ tôi nghĩ mình muốn tìm lại cái mà hội họa đang thiếu. Với tôi, sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi người nghệ sỹ phải rèn luyện kỹ năng và nền tảng vững chắc; một tác phẩm nghệ thuật khi nhìn vào cần thấy được tính lịch sử, sự trải nghiệm và chiều sâu tư duy. Vào những năm 90, với nhận thức của một người trẻ, gió phương Tây tràn sang như cơn bão không thể chống lại được. Nhưng hiện nay cơn bão ấy đã đi qua, tôi càng thấy yên bình hơn thì lại càng mong muốn thuận theo những yếu tố tự nhiên. Sự thay đổi là quy luật tất yếu của đời sống, và nghệ thuật cũng không ngoại lệ.

Thực hiện: Bảo Ngân & Nhật Anh
Biên dịch: Art Nation

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Bước kỳ lân, vạn lý viễn du

Họa sỹ Hà Mạnh Thắng chia sẻ hành trình đi từ quan sát xã hội đến thế giới nội tâm, nơi cổ thi và hội họa trừu tượng gặp gỡ.

Giữa những chiều không gian

Laura Miotto chia sẻ về thiết kế triển lãm đa giác quan, vai trò của văn bản, công nghệ và không gian trong trải nghiệm của công chúng.

Tiếp biến những tín hiệu

Pamela N. Corey bàn về văn bản, hình ảnh và ký hiệu để mở ra những cách đọc mới về nghệ thuật, lưu trữ và văn hóa thị giác Việt Nam.

Ấn phẩm