Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân

Cùng lớn lên dưới bầu trời rực đèn của những đêm rằm tháng 8, Nguyễn Thị Kim Thủy và Nguyễn Hoàng Sơn đồng sáng lập Khởi Đăng Tác Khí để giữ lửa nghề làm lồng đèn truyền thống – loại hình thủ công từng một thời rực rỡ đang dần biến mất khỏi nhịp sống hiện đại.

Read the English version here.

Một chiều hè rong ruổi trên con đường Trường Sa, dưới cái nắng râm ran, tôi dường như thấy từ xa điệu múa vi vu của những chiếc đèn lồng, lâu nay đã dần vắng bóng khỏi đêm Trung thu của tuổi trưởng thành. Ngọn gió oi ả đượm mùi trúc phơi nắng tự lúc nào đã đưa tôi đến công xưởng nhỏ của Khởi Đăng Tác Khí.

Chong đèn chờ trăng

Trên chiếc bàn kê sát cửa, anh Sơn cặm cụi nghiên cứu những bản thiết kế linh vật đã lưu giữ qua nhiều mùa trăng rằm. Xung quanh là những vòng trúc muôn hình muôn vẻ, có chiếc treo chồng lên nhau như mấy chiếc lồng chim đong đưa; có chiếc còn yên vị trong khuôn gỗ chờ định hình.

Cơ may cho tôi được trò chuyện với anh Sơn và vợ anh là chị Thủy. Cùng lớn lên dưới bầu trời rực đèn của những đêm rằm tháng 8, anh chị đồng sáng lập Khởi Đăng Tác Khí để giữ lửa nghề làm lồng đèn truyền thống, món đồ chơi thủ công rực rỡ sắc màu đang dần biến mất khỏi nhịp sống hiện đại.

Mọi chiếc lồng đèn trong xưởng đều bắt đầu từ những bức ảnh tư liệu cũ về Trung thu Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20 mà chị Thủy tìm thấy. Tiếp đó, anh Sơn dựng từng thanh nan trúc, phác nên những nét đầu tiên, rồi tỉ mẩn nắn chỉnh cho đến khi khung thô hiện dần lên, phỏng theo hình mẫu trong tâm trí. Giữa bao đường cong, đường thẳng còn rời rạc trong những bó trúc nơi hiên nhà, dường như anh đã thấy trước hình hài cuối cùng của chiếc đèn lồng đèn.

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân
Ảnh: Nguyễn Hoàng Sơn / Khoi Dang Tac Khi.

Chúng tôi cứ thắc mắc mãi. Từ những bức ảnh đen trắng cũ kỹ, mờ đến mức tưởng chỉ còn là cái bóng của chính nó, làm sao anh chị có thể gọi dậy những con cua, con cá chép với đủ hình dáng, màu sắc và hoa văn sinh động đến vậy? Tôi mang những thắc mắc đó lên gác tìm chị Thủy. Khung cảnh trước mắt mở ra như một bữa tiệc thị giác: từ trên trần nhà, không biết bao chiếc đèn lồng buông nhẹ phủ khắp ngang tầm mắt. Chỉ trong bán kính một sải tay tôi đã chạm phải hai chú cua nhỏ như đang trôi ngược dòng về phía mình. Gió quạt làm cả căn phòng khẽ chuyển động; rì rầm tiếng trò chuyện của những con cá đầu rồng, những chiếc càng cua, những cánh bướm đang chậm rãi là đà trên không trung.

Chị Thủy lúc này đang tô màu cho một chiếc đèn uyên ương thời Lý. “Dán một chiếc lồng đèn mất hai ngày trời, vẽ sai một nét là phải làm lại từ đầu.” Nhưng một khi đã ngồi vào làm, chị sẽ ở lại với chiếc đèn cho đến cuối ngày. Người làm lồng đèn lâu năm rồi cũng quen với sự chậm rãi ấy, như quen với việc đợi một mùa trăng.

Bảy phần cố hữu

Phỏng dựng đèn lồng trong cách nhìn của chị Thủy và anh Sơn, là cây cầu giữa hai bờ: bảy phần truyền thống và ba phần đổi mới. Bảy phần là chuyện tạo hình. Xưởng giở lại những hình ảnh tư liệu xưa, rồi tìm về nghiên cứu các họa tiết phù điêu, điêu khắc tại đình, chùa, miếu mạo cổ khắp đất nước, nơi thời gian đã để lại dấu tay của bao thế hệ nghệ nhân đi trước để mô phỏng lại hình dáng trên chiếc đèn lồng.

Những khớp chân trên chiếc đèn con cua, khớp cánh trên chiếc đèn hồ điệp – nhìn kỹ mới thấy chúng không chỉ là hình dạng ngẫu nhiên. Chị Thủy bảo, người Á Đông xưa quen nhìn hình mà luận chữ. Con cua với lớp vỏ cứng mang chữ “giáp” (甲), vừa như biểu tượng đứng đầu trong thiên can, như Trạng nguyên cập đệ. Một chiếc đèn con cua, vì thế, là lời chúc thi cử đỗ đạt, bảng vàng vinh quang. Con bướm có Hán tự là “điệp” (蝶), vốn đồng âm với chữ “điệp” (耋) chỉ người sống lâu trường thọ, từ đó trở thành lời chúc các bậc cao niên có thể hưởng phúc cùng con cháu dài lâu.

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân
Ảnh: Nguyễn Hoàng Sơn / Khoi Dang Tac Khi.

Đấy là tinh thần của mỹ thuật Đông phương, một nền mỹ thuật giàu tính tượng hình, luôn bao bọc con người bằng nguồn năng lượng tốt lành và lời chúc phúc cho gia chủ. Bởi vậy, bảy phần tạo hình là chặng đường dài truy về điểm khởi nguồn để gắn kết từng thiết kế với đúng cái lõi triết lý phong thủy và ý nghĩa cát tường của biểu tượng đó.

Ba phần cách tân

Những chiếc đèn lồng cầu kỳ gần như chỉ xuất hiện vào Trung thu. Sự mong manh của vật liệu vốn đã định đoạt rằng chúng không thể bền bỉ cùng năm tháng như một bức tranh phong cảnh hữu tình treo mãi trên tường của một ngôi nhà xưa. Nếu muốn tiếp tục sống, nghề thủ công phải tìm được chỗ đứng trong đời sống hôm nay, phải hiện diện trong những không gian thường nhật, được chạm vào, sử dụng và nhìn nhận như một phần tự nhiên của cuộc sống đương đại. Vì vậy, ba phần còn lại của phỏng dựng đèn lồng phải thuộc về hiện tại, về sự tồn sinh.

Trước kho lưu trữ khan hiếm, manh mối duy nhất chỉ còn trong tài liệu xa xưa của người Pháp, anh chị chỉ đành tự mình dò dẫm: thử tre, thử dây thép, thử sợi mây, hết cái này đến cái khác, cho đến khi dừng lại ở sợi trúc – mảnh, tròn, có thể chịu nhiệt và uốn đều, uốn đẹp – như thể đó mới đúng là thứ đã từng nằm trong tay người xưa, chỉ là thời gian đã không còn ai kể lại.

Còn màu sắc lại là một cuộc dò tìm khác không kém phần khó. Tư liệu xưa gần như chỉ còn lại sắc đen trắng. Để tìm lại sự lung linh, rực rỡ cho chiếc đèn lồng hôm nay, chị Thủy dùng con mắt của một người từng học trường kiến trúc, rồi lần tìm thêm màu sắc từ những bức tranh thêu cổ – nơi hiếm hoi còn giữ được sắc độ nguyên bản – để mang những gam màu ấy quay về, sống lại một lần nữa trên mặt giấy của chiếc đèn lồng.

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân
Ảnh: Nguyễn Hoàng Sơn / Khởi Đăng Tác Khí.

Tôi hỏi chị Thủy mất bao lâu từ lúc phác thảo cho đến khi hoàn thiện một mẫu đèn mới.

“Ít nhất nửa năm,” chị trả lời.

Suốt sáu bảy chục năm qua, gần như không ai làm lại những mẫu lồng đèn phức tạp nữa. Người ta thường dùng thanh tre dẹt hoặc đi khung kẽm cho nhanh và dễ. Chị chọn trúc, chọn cái khó, cái chậm, bởi chị muốn làm ra một chiếc đèn tinh xảo tự trong ra ngoài, với mong muốn vọng lên được cái hồn cốt của mỹ nghệ xưa.

Không chỉ khung, đến giấy lợp cũng vậy. Lợp đèn bằng giấy kiếng thì nhanh, lại đỡ tốn kém hơn nhiều, nhưng nhanh và rẻ chưa bao giờ là thứ khiến anh chị bằng lòng. Chị kể về giấy dó, một thử nghiệm mới chỉ bắt đầu từ đầu năm nay. Giấy dó vốn chỉ có một màu, nên muốn lợp đèn thì phải nhuộm trước – cứ lên màu rồi chờ khô, suốt hơn bốn tiếng đồng hồ, kiên nhẫn như chờ một vò rượu lên men qua năm tháng. Nếu giấy kiếng cho ánh sáng xuyên qua lung linh, đổ bóng bắt mắt, thì giấy dó lại chọn cho mình những tông màu mờ lì, nhạt nhẹ, và chính điều đó lại mở ra cho anh chị một khoảng trời phóng khoáng hơn để đi màu.

Ôn cố tri tân

Điều anh chị đang làm không phải là cố tạo ra một thứ tinh xảo hơn người xưa. Cái anh chị muốn chỉ đơn giản là trả lại cho chiếc đèn lồng cái tinh xảo vốn dĩ đã thuộc về nó từ lâu, để dáng vẻ cố hữu ấy được thở giữa đời sống hôm nay, giữa những con phố đã đổi thay biết bao lần. Tôi nghĩ, có lẽ đó mới là điều khó nhất trong tất cả những điều khó: “ôn cố tri tân” – làm ra cái mới mà không đánh rơi mất phần hồn cốt đã làm nên giá trị của nó tự bao đời.

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân
Ảnh: Nguyễn Hoàng Sơn / Khoi Dang Tac Khi.

Nhưng có một điều anh chị không giấu được nỗi lo: chưa có một hạ tầng văn hóa nào đủ vững chãi để nghề làm lồng đèn còn chỗ đứng để sống tiếp. Không ai biết đến một lúc nào đó, những món đồ chơi truyền thống sẽ còn sức hấp dẫn đối với những đứa trẻ lớn lên trong thời đại số. Bản thân tôi cũng tự hỏi, liệu anh chị có phải là một trong những thế hệ cuối cùng còn ráng sức gìn giữ một nghề thủ công truyền thống đang lặng lẽ lùi dần vào những đêm Trung thu ngày cũ. 

“Trải qua hơn 100 năm, tâm tính người Việt hiện đại đã đổi thay rất nhiều. Đời sống vật chất được đẩy lên cao khiến con người cuốn vào vòng quay của sự nhanh gọn và hiệu quả mà xa rời các giá trị tình cảm, nhân lễ nghĩa trí tín của truyền thống Á Đông,” chị Thủy nói. “Những nghề truyền khẩu, truyền thừa bằng trực quan như làm lồng đèn vẫn luôn mong manh, bởi chúng không nằm trong sách vở, không có công thức nào ghi lại cho đủ đầy, mà nằm trọn trong đôi bàn tay của người nghệ nhân, qua từng cái miết nan, từng nếp gấp giấy. Mà bàn tay thì không sống mãi.”

Nhưng có lẽ “sinh khí” mà đôi bàn tay ấy thổi vào thì sẽ tìm được đời sống của riêng mình. “Tên gọi ‘Khởi Đăng Tác Khí’ hướng đến việc tạo tác và khơi dậy chữ ‘khí’ bằng việc ‘khởi đăng’ – giăng đèn. Đây là nguồn năng lượng vô hình nhưng là nội tại vững vàng của một dân tộc, được đắp bồi từ bề dày lịch sử và văn hóa để con người có thể tự tin bước tiếp qua những biến động tương lai, thay vì chạy theo những giá trị vật chất hời hợt,” chị giải thích.

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân
Ảnh: Nguyễn Hoàng Sơn / Khoi Dang Tac Khi.

Nghìn năm giữ lửa

Đôi tay vẫn chậm rãi miết từng nét cọ, chị Thủy kể về cậu con trai nhỏ lớn lên giữa mùi keo dán, mùi giấy mới, và tiếng trúc lách cách suốt những buổi chiều dài. Từ nhỏ, em đã quen với cảnh mẹ ngồi hàng giờ bên khung đèn, với những ngón tay lấm màu, và với cái không khí vừa tất bật vừa tĩnh lặng của một xưởng thủ công. Có lẽ với em, lồng đèn không phải là một sản phẩm, mà là một phần tuổi thơ, một môi trường dìu dắt em lớn lên từng ngày. Mỗi chiếc đèn lồng đều mang một bài học mà em mắt thấy tay chạm, cũng là cách anh chị dần dần nối liền những đứt gãy thế hệ. Từ niềm vui trẻ thơ – mối duyên gắn kết em với những thứ đồ chơi ấy – sẽ lớn dần lên, trở thành bài học đầu đời về tấm lòng biết trân quý những vật liệu thô sơ và cả đôi bàn tay miệt mài sớm tối.

Đó quả thực là một hành trình dài, nhưng anh chị tin rằng khi thế hệ mai sau như con trai được chạm vào những chiếc lồng đèn ấy nhiều hơn, nhìn ngắm từng nan trúc được uốn đều tay, từng lớp giấy dán tỉ mẩn, từng nét màu đậm nhạt từ nhiều lần đi cọ, người ta sẽ tự khắc nhẹ tay hơn với mỹ nghệ truyền thống. Và biết đâu, chính nhờ những điểm chạm nhỏ ấy, tâm thức họ sẽ vun vén một chốn riêng cho món đồ thủ công vốn hiện diện âm thầm trong cuộc sống của mình.  Mỹ nghệ sẽ không còn bất động trong ký ức về một thời đã qua, mà hiện diện trong đời sống đương đại, dù con đường gian truân ấy có thể mất hơn một đời người để đi tới cuối.

Bảy phần cố hữu, ba phần cách tân
Ảnh: Nguyễn Hoàng Sơn / Khởi Đăng Tác Khí.

Suốt buổi trò chuyện, tôi thoáng thấy từ âm điệu và ánh sáng trong đôi mắt anh chị không chỉ là câu chuyện về số lượng sản phẩm cụ thể cần hoàn thành, hay thiết kế nào thành công hơn cả, mà là một ước mong rằng “trăm năm trồng người” sẽ có ngày kết trái để cái đẹp mộc mạc vốn đã nằm sẵn trong từng chiếc đèn lồng hiện hữu còn có thể được lưu giữ đến thế hệ mai sau – tất cả có lẽ chỉ khởi đầu từ tiếng cười rộ của cậu con trai trong buổi chiều hôm vẫn còn bộn bề giấy màu, nan trúc.

Thực hiện: Nguyễn Nguyệt Tóc Tiên
Biên dịch: Art Nation

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Hạ màn, vén mối lương duyên

Tìm hiểu cách một ê-kíp trẻ tìm kiếm sức sống đương đại cho cải lương từ ký ức, sân khấu và điện ảnh.

Trình diễn cuộc hạ màn

Góc nhìn giám tuyển về tác phẩm trình diễn "Tàn thuốc tại Nhà hát Neilma" của Vũ Đức Toàn.

Nghệ thuật bao hàm: Phản đề của “Đẹp và “Đúng”

Góc nhìn về thực trạng và thách thức trong việc xây dựng hạ tầng bền vững cho nghệ thuật bao hàm tại Việt Nam.

Ấn phẩm