“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s

Luận về “Hoa viên nhã đàm” của Vũ Cao Đàm

“Hoa viên nhã đàm (Conversation D’Élégantes Au Jardin)” — tác phẩm tranh lụa có vai trò quan trọng bậc nhất trong giai đoạn đầu sự nghiệp của Vũ Cao Đàm — sắp xuất hiện tại phiên đấu Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại của Sotheby’s (Hồng Kông) vào 28.09.2026. Bức tranh ra đời ngay trước Thế chiến thứ Hai, là sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ Đông-Tây khi nghệ thuật hiện đại phương Tây gặp gỡ dòng ký ức cá nhân của người nghệ sỹ Á Đông.

Read the English version here.

Tiểu sử Vũ Cao Đàm

“Suốt cuộc đời, Vũ Cao Đàm luôn được truyền cảm hứng bởi một thế giới hài hòa do nền văn minh nghìn năm tuổi vun đắp mà thành. Ông là một trong những chứng nhân cuối cùng của thế giới ấy, và đã dành phần đời còn lại để vẽ về nó. Đó là cách ông chiến đấu chống lại bóng tối; ông trở thành người cất tiếng cho hòa bình và tình yêu. Ông từng trải qua cô đơn, nhưng những nguyên tắc đạo đức trong ông chưa bao giờ lay chuyển, và niềm tin vào bản tính hào hiệp của con người vẫn nguyên vẹn, ngay cả khi thế giới chìm vào tăm tối.”

Yannick Vũ, con gái của nghệ sỹ

Sinh tại Hà Nội ngày 8 tháng 1 năm 1908, Vũ Cao Đàm là một trong những gương mặt tiên phong của nghệ thuật hiện đại Việt Nam, đồng thời thuộc thế hệ nghệ sỹ tiêu biểu được đào tạo tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Vũ Cao Đàm lớn lên trong một gia đình có truyền thống trí thức nổi bật. Ông là người con thứ năm của Vũ Đình Thi và Phạm Thị Cúc, trong một gia đình có mười bốn người con, chín người sống đến tuổi trưởng thành. Cha ông là một học giả, nhà giáo và người sáng lập Trường Thông ngôn Hà Nội. Thành thạo thư pháp Hán và am hiểu sâu rộng văn chương Trung Hoa, ông còn học tiếng La-tinh, Tây Ban Nha và Pháp, trong khi vẫn giữ lòng tôn kính sâu sắc đối với Khổng Tử và truyền thống khoa bảng.

Từ năm 1886, Vũ Đình Thi đào tạo thông ngôn, quan lại và giáo viên tiếng Pháp tại Hà Nội; năm 1889, ông đại diện Việt Nam tham dự Triển lãm Thế giới tại Paris. Là một người cha nghiêm khắc, ông xây dựng tinh thần kỷ luật trí tuệ cho gia đình, trong khi mẹ của Vũ Cao Đàm được nhớ đến bởi tấm lòng nhân hậu và sự tận tụy dành cho các con. Sự kết hợp giữa học vấn, truyền thống văn hóa và những gắn bó gia đình sâu sắc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến người nghệ sỹ trẻ.

Năm 1926, sau khi vượt qua kỳ thi tuyển sinh khắt khe, Vũ Cao Đàm gia nhập khóa thứ hai của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo học tại đây từ năm 1926 đến 1931. Ông học hội họa, hình họa và điêu khắc dưới sự hướng dẫn của Victor Tardieu (1870–1937) và Joseph Inguimberty (1896–1971), cùng những tên tuổi sau này trở thành những gương mặt quan trọng của mỹ thuật Việt Nam như Nguyễn Phan Chánh (1892–1984), Tô Ngọc Vân (1906 hoặc 1908–1954) và Thang Trần Phềnh (1895–1973). Ông cũng hình thành những tình bạn gần gũi kéo dài suốt đời với Lê Phổ (1907–2001), Mai Trung Thứ (1906–1980) và Lê Thị Lựu (1911–1988).

Ngay từ những năm đầu theo học, điêu khắc đã có sức cuốn hút đặc biệt đối với Vũ Cao Đàm. Dưới sự khuyến khích của Tardieu, ông dành nhiều tâm sức cho tạo hình và chân dung. Tài năng điêu khắc của ông sớm được ghi nhận: một tượng bán thân thiếu nữ được đánh giá cao tại Đấu xảo Paris năm 1931, trong khi bức tượng bán thân Victor Tardieu về sau được gia đình Tardieu trao tặng cho Trường Mỹ thuật Hà Nội vào năm 1997.

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm vẽ trực họa từ thiên nhiên, Hà Nội, khoảng năm 1926. Ảnh: Kho lưu trữ Vũ Cao Đàm, Alcudia.

Từ Hà Nội đến Paris

Người nghệ sỹ trẻ quan tâm tới nhiều thực hành và chủ đề khác nhau. Ông ngưỡng mộ các họa sỹ Ý theo đuổi chủ nghĩa Nguyên thủy, Paul Gauguin (1848–1903), Vincent van Gogh (1853–1890) cùng các họa sỹ Ấn tượng Pháp, đặc biệt là Pierre-Auguste Renoir (1841–1919), bên cạnh Pierre Bonnard, các họa sỹ theo trường phái Dã thú như Henri Matisse và Amedeo Modigliani.

Trong điêu khắc, ông chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật dân gian Khmer và điêu khắc Trung Hoa, tạo nên từ rất sớm sự kết hợp giữa những nguồn ảnh hưởng Á Đông và châu Âu – một đặc điểm sẽ trở thành nền tảng trong toàn bộ sự nghiệp của ông.

Năm 1930 mang đến một mất mát cá nhân sâu sắc khi Vũ Cao Đàm mất cả cha lẫn mẹ. Tháng 6 năm 1931, ông hoàn thành chương trình học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và nhận được học bổng sang Pháp tiếp tục việc học. Trước khi rời Việt Nam, ông đã tham gia Đấu xảo Paris, diễn ra từ 06.05–15.11.1931. Tháng 11 cùng năm, ông lên đường sang Pháp với hành trang là những ghi nhận nghệ thuật đã đạt được từ trước.

Tại Paris, Vũ Cao Đàm tiếp tục theo học tại Trường Louvre (École du Louvre). Từ năm 1932 đến 1934, ông tham dự các lớp lịch sử nghệ thuật thuộc chuyên ngành Nghệ thuật Viễn Đông. Việc học giúp ông được tự do tiếp cận hai thiết chế văn hóa quan trọng bậc nhất Paris là Bảo tàng Louvre và Bảo tàng Guimet, qua đó trực tiếp nghiên cứu nghệ thuật châu Âu lẫn châu Á. Tháng 12 năm 1931, tác phẩm của ông cũng được trưng bày tại Triển lãm Nghệ thuật Thuộc địa ở Rome.

Vũ Cao Đàm nhanh chóng nổi danh dưới vai trò nhà điêu khắc. Năm 1932, khi Bảo Đại đến Paris, ông đã yêu cầu Vũ Cao Đàm thực hiện tượng chân dung của mình. Trong những năm này, nghệ sỹ tham gia các triển lãm tại Đông Dương Kinh tế Cục (Agence Économique de l’Indochine hay Agindo), đồng thời tiếp tục thực hiện chân dung của nhiều nhân vật nổi bật và quan chức chính phủ.

Tác phẩm của ông nhận được đánh giá tích cực từ giới phê bình và đạt thành công trên thị trường, qua đó xác lập vị thế của ông như một nhà điêu khắc trẻ đáng chú ý trong thế giới nghệ thuật Paris.

“Người nghệ sỹ đã tiếp thu phương pháp từ phương Tây, chọn lọc lấy những gì đẹp đẽ nhất […] nhưng phong cách sáng tác của ông không hề gắn bó với nghệ thuật của chúng ta; phải tìm đến những pho tượng cổ của Campuchia để thấy nguồn cảm hứng của chúng.” – Trích lời Thiébault-Sisson

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm tạo dáng bên tác phẩm điêu khắc “Thiếu nữ An Nam (Femme Annamite)” khi tác phẩm còn ở giai đoạn đất sét. Phiên bản thạch cao từng được trưng bày tại Đấu xảo Paris năm 1931 và hiện thuộc Bảo tàng Quai Branly, Paris. Vũ Cao Đàm đeo băng tang trong ảnh, vì vậy bức ảnh nhiều khả năng được chụp vào năm 1930. Ảnh: Kho lưu trữ Vũ Cao Đàm, Alcudia.

Chiến tranh và sự chuyển hướng sang hội họa

Năm 1936, Vũ Cao Đàm gặp Renée Appriou tại khuôn viên trường đại học. Là một nghệ sỹ piano trẻ, bà sau này trở thành người bạn đời gắn bó với ông suốt cuộc đời; hai người kết hôn năm 1938. Cũng vào thời gian này, sự nghiệp của Vũ Cao Đàm bước sang một giai đoạn mới quan trọng. Năm 1939, ông triển lãm tại Phòng tranh Romanet, mở đầu cho mối quan hệ lâu dài với phòng tranh và những người chủ của nơi này. Tuy nhiên, chiến tranh bùng nổ tại châu Âu vào tháng 9 năm đó khiến việc kinh doanh nghệ thuật vốn đã khó khăn lại càng trở nên thách thức hơn. Chiến tranh có tác động mang tính bước ngoặt đến quá trình phát triển nghệ thuật của Vũ Cao Đàm. Việc đúc đồng trở nên bất khả thi: nấu chảy đồng bị cấm và kim loại bị lực lượng chiếm đóng Đức trưng dụng. Vì thế, sự nghiệp điêu khắc của ông bị gián đoạn nghiêm trọng. Ông ngày càng dành nhiều thời gian hơn cho hội họa, chỉ thỉnh thoảng quay lại điêu khắc thông qua các mẫu đất sét được nung và tạo lớp patina đặc trưng.

Đầu thập niên 1940, gia đình Romanet – chủ nhân của phòng tranh cùng tên – đặc biệt quan tâm đến các nghệ sỹ xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và Mai Trung Thứ được mời triển lãm tại Phòng tranh Romanet ở Algiers vào các năm 1941 và 1942.

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm, “Vị quan (Le Mandarin)” (1942), mực và bột màu trên lụa, 145,5 × 71 cm. Một chân dung tương tự được bán tại Triển lãm của các Nghệ sỹ Độc lập (Salon des Indépendants) năm 1940.

Trong những năm đầu thập niên 1940, Vũ Cao Đàm cũng ngày càng hoạt động năng nổ hơn tại Paris. Ông tham dự Triển lãm của các Nghệ sỹ Độc lập (Salon des Artistes Indépendants) và Triển lãm Mùa thu (Salon d’Automne), nơi tác phẩm của ông nhận được không ít lời có cánh từ các nhà phê bình đương thời. Đồng thời, ông chuyển hướng chú ý tới tranh lụa – chất liệu cho phép ông kết hợp đặc tính tuyến tính của điêu khắc, sự uyển chuyển của thư pháp Trung Hoa và vốn kiến thức từ nghệ thuật hiện đại châu Âu.

Các tác phẩm tranh lụa thuộc giai đoạn này giờ đã rất hiếm, biến chúng trở thành những bức tranh được săn đón nhất trong sự nghiệp của Vũ Cao Đàm. Giá trị của chúng không chỉ nằm ở độ khan hiếm, mà còn ở cách chúng thể hiện sự tổng hòa giữa ngôn ngữ nghệ thuật Đông và Tây tại một trong những giai đoạn quan trọng nhất của sự nghiệp ông.

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm, “Thiếu nữ Annam (Femme Annamite)” (1940), mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 61 × 46 cm. Ảnh: Bộ sưu tập Phòng Trưng bày Quốc gia Singapore.

Từ Paris đến miền Nam nước Pháp

Năm 1946, điêu khắc một lần nữa tạm thời trở về vị trí trung tâm trong thực hành nghệ thuật của Vũ Cao Đàm khi Hồ Chí Minh đến Paris. Ông thực hiện một tượng bán thân bằng đồng của vị lãnh tụ Việt Nam, một huy chương phù điêu thấp (nay đã thất lạc) cùng một huy chương đồng kỷ niệm. Cũng trong năm đó, tranh lụa của ông được Jeannine Auboyer dành nhiều lời ca ngợi trong một bài viết trên France Illustration, đồng thời ông tổ chức triển lãm cá nhân tại Phòng tranh Van Ryck ở Paris.

Đến cuối những năm 1940, sức khỏe Vũ Cao Đàm bắt đầu xuống dốc. Ông quyết định rời Paris và chuyển đến Béziers ở miền Nam nước Pháp. Rời xa nhịp sống căng thẳng của thủ đô, hội họa của ông bước sang một trang mới. Ánh sáng phương Nam khuyến khích một cách tiếp cận gần với tự nhiên hơn, trong khi sự quan tâm của ông đối với hội họa Phục hưng Pháp mang đến những sắc thái mới trong tạo khối, màu sắc và bầu không khí.

Năm 1952, Vũ Cao Đàm chuyển đến Côte d’Azur và định cư tại Vence. Môi trường mới đưa ông đến gần một số nghệ sỹ tiên phong quan trọng nhất châu Âu. Ông sống gần Chapelle du Rosaire gắn với Henri Matisse, và chỉ cách Marc Chagall khoảng một kilomet. Ông cũng gặp Pablo Picasso, Max Ernst và nhiều nghệ sỹ khác, qua đó càng đắm mình sâu hơn vào bầu không khí sáng tạo của vùng Riviera nước Pháp. Đặc biệt, Marc Chagall có ảnh hưởng sâu sắc đến hội họa thời kỳ trưởng thành của Vũ Cao Đàm. Từ đây, ông gần như dành trọn thực hành cho sơn dầu, sử dụng bảng màu biểu cảm và những bố cục ngày càng rực rỡ. Tuy nhiên, phong cách trưởng thành của ông vẫn bắt rễ trong chất trữ tình tinh tế của những tranh lụa thời kỳ đầu và trong cuộc đối thoại kéo dài suốt đời giữa truyền thống phương Đông với chủ nghĩa Hiện đại phương Tây.

Năm 1959, Vũ Cao Đàm định cư lâu dài tại Saint-Paul-de-Vence, nơi ông sống cho đến khi qua đời năm 2000. Ông tiếp tục vang danh trên quốc tế. Năm 1963, ông ký hợp đồng với Phòng tranh Wally Findlays, nhờ đó tác phẩm của ông xuất hiện tại các triển lãm tại Chicago, Palm Beach, New York và Los Angeles, đưa tên tuổi ông gần hơn với công chúng Mỹ.

Ngày nay, Vũ Cao Đàm được nhìn nhận như một trong những nhân vật quan trọng hàng đầu của nghệ thuật hiện đại Việt Nam, đồng thời là một trong những nghệ sỹ thành công nhất trong việc chuyển dịch di sản văn hóa và nghệ thuật Việt Nam sang một ngôn ngữ mang tính quốc tế. Những năm gần đây, tác phẩm của ông xuất hiện trong nhiều triển lãm quan trọng, trong đó có Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm: Ba nghệ sỹ Việt Nam tại Pháp (Le Pho, Mai Thu, Vu Cao Dam, Trois artistes vietnamiens en France) tại Bảo tàng Cernuschi, Paris, từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025, và Thành phố Ngoại lai: Nghệ sỹ châu Á tại Paris thập niên 1920–1940 (City of Others: Asian Artists in Paris 1920s–1940s) tại Phòng Trưng bày Quốc gia Singapore, từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2025.

Theo Anne Fort – giám tuyển của Bảo tàng Cernuschi, “Ông đã gặp Marc Chagall, người ông ngưỡng mộ và chia sẻ nhiều mối quan tâm: vẽ nên một thế giới gắn với tuổi thơ và những huyền thoại phổ quát; ngợi ca niềm vui và tình yêu để không chìm vào tuyệt vọng. Và trên hết, không đầu hàng trước những ồn ào xung quanh; tiếp tục đi theo con đường của mình, giữ lại chính mình, nhưng không ngơi bản tính tò mò.”² Trên tờ France Illustration, Jeannine Auboyer đã nhận định như sau: “[Vũ Cao Đàm] tìm cách làm mới hội họa Đông Dương trong khi vẫn gìn giữ những phẩm chất cốt yếu từ quá khứ, đồng thời bổ sung một số đặc trưng của hội họa phương Tây, tạo nên một sự tổng hợp cân bằng đến mức dường như hoàn toàn tự nhiên.”³

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm, “Hoa viên nhã đàm (Conversation d’élégantes au jardin)” (1939), mực và bột màu trên lụa, 85,6 × 114,5 cm. Bộ sưu tập tư nhân. Ảnh: Sotheby’s.

“Với tôi, bức tranh này là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp của Vũ Cao Đàm. Nó khắc họa một viễn cảnh lý tưởng tựa vườn Địa đàng, biểu đạt gần như hoàn hảo hình ảnh nguyên mẫu về hạnh phúc của Viễn Đông. Đồng thời, tác phẩm là một chứng tích xúc động và quý giá về một thời kỳ đạt đến đỉnh cao của văn minh và sự thanh nhã. Nhưng đó cũng là một khoảnh khắc khi niềm hạnh phúc mong manh sắp sửa tan biến. Chiến tranh, cách mạng và sự xa lạ của những người ngoại quốc rồi sẽ cùng nhau phá hủy tất cả. Tôi cũng đặc biệt chú ý đến vẻ đẹp của những gương mặt Vũ Cao Đàm vẽ vào thời kỳ này. Quả thực, ông được dẫn dắt bởi một thứ ân sủng nào đó.”

Michel Vũ, con trai của nghệ sỹ

Một thành tựu tiêu biểu của thời kỳ đầu

Được sáng tác năm 1939, vào đỉnh cao những năm tháng Paris của Vũ Cao Đàm, Hoa viên nhã đàm có thể được xem là thành tựu mang tính định hình trong giai đoạn đầu sự nghiệp của nghệ sỹ, đồng thời là bố cục nhiều nhân vật trên lụa có kích thước lớn nhất hiện được biết đến của ông.

Với kích thước lớn, bảng màu phong phú và chất trữ tình tĩnh lặng, tác phẩm đánh dấu đỉnh cao của giai đoạn sáng tác tranh lụa, trước khi chiến tranh làm thay đổi quỹ đạo cuộc đời và thực hành của ông. Hiếm có tác phẩm nào thể hiện đầy đủ khả năng đặc biệt của nghệ sỹ trong việc dung hòa truyền thống Đông và Tây, biến một chất liệu Á Đông lâu đời thành phương tiện cho một hình dung hiện đại rõ rệt về bản sắc Việt Nam.

Kích thước khác biệt của tác phẩm – 85,6 × 114,5 cm – đi cùng với độ hiếm của nó. Theo catalogue raisonné,⁴ chỉ có bốn tác phẩm lụa khác của Vũ Cao Đàm có một chiều vượt quá một mét. Trong số đó, ba tác phẩm là chân dung một nhân vật đang ngồi, và chỉ có một tác phẩm là bố cục nhiều nhân vật: cảnh hai người phụ nữ tắm, gõ búa tại Sotheby’s Hồng Kông năm 2018.

Vì vậy, Hoa viên nhã đàm giữ một vị trí độc nhất trong toàn bộ sáng tác lụa của Vũ Cao Đàm – không chỉ bởi đây là một tác phẩm khổ lớn, mà còn bởi nó là bố cục lụa nhiều nhân vật lớn nhất hiện được biết đến của nghệ sỹ. Khuôn tranh rộng cho phép ông tạo nên những tương tác phức tạp giữa con người, kiến trúc, cây cỏ và màu sắc ở một quy mô hiếm thấy trong các tác phẩm còn tồn tại.

Thực hiện năm 1939, bức tranh ra đời tại một thời điểm bước ngoặt trong sự nghiệp của Vũ Cao Đàm. Sau khi chuyển đến Paris năm 1931, ông hòa mình vào đời sống nghệ thuật và trí thức của thủ đô nước Pháp, theo học tại Trường Louvre và tiếp xúc trực tiếp với các bộ sưu tập của Louvre lẫn Bảo tàng Guimet. Những năm tháng ở Paris đưa ông đến gần các bậc thầy hội họa và điêu khắc châu Âu, trong khi di sản Việt Nam vẫn giữ vai trò trung tâm trong căn tính nghệ thuật của ông.

Đến cuối thập niên 1930, các nguồn ảnh hưởng đa dạng ấy đã kết tinh thành một ngôn ngữ mang dấu ấn cá nhân rõ nét. Hoa viên nhã đàm nằm chính tại đỉnh cao của tiến trình đó. Cũng trong năm 1939, khi hoàn thiện tác phẩm, Vũ Cao Đàm triển lãm tại Phòng tranh Romanet, mở ra mối quan hệ lâu dài với phòng tranh. Tác phẩm của ông còn được giới thiệu tại Đông Dương Kinh tế Cục ở Paris cùng Lê Phổ và Mai Trung Thứ. Những triển lãm như vậy là bệ phóng quan trọng đối với các nghệ sỹ Việt Nam làm việc tại Pháp trong giai đoạn đầu, đưa Vũ Cao Đàm vào dòng tự sự lớn hơn về những nghệ sỹ châu Á đang từng bước xác lập vị trí của mình tại kinh đô văn hóa châu Âu. Trong số các tác phẩm được trưng bày, Hoa viên nhã đàm trong vườn nổi bật nhờ kích thước ấn tượng và bố cục nhiều nhân vật đầy tham vọng.

Năm 1939 cũng mang ý nghĩa đặc biệt trong đời sống riêng tư của Vũ Cao Đàm. Được hoàn thành chỉ một năm sau khi ông kết hôn với người bạn đời Renée Appriou, Hoa viên nhã đàm trong vườn được cho là món quà dành cho người vợ trẻ.

Đó là khoảng thời gian đầy hạnh phúc và hứa hẹn nghệ thuật: Vũ Cao Đàm vừa bắt đầu triển lãm tại Agindo cùng Mai Trung Thứ và Lê Phổ, trong khi mối quan hệ với Phòng tranh Romanet cũng đang thành hình. Tuy nhiên, sự lạc quan ấy tồn tại song song với tình hình chính trị ngày một bất ổn tại châu Âu. Triển lãm Agindo diễn ra vào tháng 4 và tháng 5 năm 1939, chỉ vài tháng trước khi Đức xâm lược Ba Lan vào tháng 9 và Thế chiến thứ Hai bùng nổ.

Đặt giữa bối cảnh này, khu vườn rạng rỡ, những sắc màu tươi sáng và nhóm phụ nữ thanh lịch trong tranh mang thêm một tầng ý nghĩa xúc động: một lời ngợi ca tình yêu, gia đình và cái đẹp được sáng tạo ngay trước ngưỡng cửa của những biến động sâu sắc. Chiến tranh sau đó khiến việc sáng tác điêu khắc ngày càng khó khăn. Vũ Cao Đàm vốn gây dựng tên tuổi trước hết với tư cách một nhà điêu khắc, nhưng chiến tranh hạn chế nghiêm trọng nguồn cung đồng khi kim loại này bị quân Đức chiếm đóng trưng dụng. Vì thế, ông ngày càng dành nhiều thời gian cho hội họa, tìm đến lụa như một chất liệu để tiếp tục con đường khám phá của mình.

Những tác phẩm ra đời từ đây thuộc về một chương tương đối ngắn nhưng đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Đến thập niên 1950, sau khi chuyển xuống miền Nam nước Pháp, ông gần như chuyển hẳn sang sơn dầu. Vì vậy, các tranh lụa thập niên 1930 và 1940 tạo thành một nhóm tác phẩm riêng biệt và giới hạn; việc những tác phẩm khổ lớn như thế này còn tồn tại đến ngày nay là điều vô cùng hiếm.

Gia đình, ký ức và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam

Ẩn dưới hình dung về tính hiện đại ấy là một chiều kích hết sức riêng tư. Bố cục của tác phẩm gợi nhớ đến một bức ảnh gia đình của chính Vũ Cao Đàm, đặc biệt là người chị mà ông yêu quý, Vũ Thị Thục, cùng gia đình bà – những người vẫn ở lại Việt Nam sau khi nghệ sỹ sang Pháp. Những điểm tương đồng rất rõ nét: các nhân vật tụ họp ngoài trời, cách sắp xếp nhóm người trong gia đình và bóng dáng kiến trúc cổ truyền Việt Nam thấp thoáng phía sau.

Vũ Cao Đàm đặc biệt gắn bó với mẹ và chị gái, và những người phụ nữ trong gia đình luôn là nguồn cảm hứng quan trọng suốt cuộc đời ông. Khi chuyển hóa một ký ức riêng tư thành khung cảnh lý tưởng hóa về tình thân giữa những người phụ nữ, nghệ sỹ biến hồi ức cá nhân thành hình ảnh phổ quát về sự gần gũi và hòa hợp trong gia đình.

Ở trung tâm Hoa viên nhã đàm là cuộc tụ họp đặc biệt của năm người phụ nữ ăn vận thanh lịch. Nếu những tranh lụa của Vũ Cao Đàm về phụ nữ trong phong cảnh thường chỉ xuất hiện một hoặc hai nhân vật, thì ở đây ông quy tụ tới năm người phụ nữ trong những tư thế duyên dáng. Ngồi bên nhau trong một khu vườn, họ vừa thư thái vừa tự tin, thể hiện một hình dung mới đang dần định hình về tính nữ Việt Nam trong thập niên 1930. Những tà áo dài phản ánh sự thay đổi trong thời trang và quan niệm thẩm mỹ của thời kỳ này, đặc biệt là ảnh hưởng của thời trang Paris và những cách tân gắn với kiểu áo dài hiện đại được các nghệ sỹ, nhà thiết kế đương thời phổ biến.

Từ “quý cô” (élégantes) trong nhan đề cũng mang ý nghĩa đáng chú ý: những người phụ nữ này gợi lên một thế hệ phụ nữ Việt Nam thành thị mới – có học thức, hợp thời và ngày càng hiện diện đều đặn hơn trong không gian công – gắn với sự tinh tế, duyên dáng, trí tuệ và tự tin.

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Chị gái Vũ Cao Đàm, Vũ Thị Thục, cùng gia đình trong khu vườn phía sau ngôi nhà của họ tại Huế, Việt Nam. Ảnh: Kho lưu trữ Vũ Cao Đàm, Alcudia.

“Những tấm lụa được chuẩn bị rất kỹ. Loại vải được sử dụng là một thứ lụa pongee mịn, xử lý bằng mực tàu và nước để tạo chiều sâu. Sau đó, lụa được bồi lên giấy bằng một loại keo làm từ cá, thứ keo có mùi vô cùng đặc trưng. Khi khô, các tờ giấy được ép dưới vật nặng để làm phẳng. Tiếp đó, ông tạm cố định chúng lên một tấm gỗ, và công việc thực sự mới bắt đầu trên giá vẽ.”

Yannick Vũ, con gái nghệ sỹ

Giữa Ấn tượng Pháp và bản sắc Việt Nam

Tác phẩm đồng thời cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của trường phái Ấn tượng Pháp đối với thế giới thị giác của Vũ Cao Đàm. Khung cảnh những người phụ nữ thanh lịch thong thả tụ họp trong vườn gợi nhớ đến các cảnh ngoài trời của Claude Monet (1840–1926) và Pierre-Auguste Renoir (1841–1919), nơi những phụ nữ thời thượng trong khoảnh khắc nhàn tản trở thành chủ đề quen thuộc để khám phá ánh sáng, màu sắc và đời sống hiện đại. Đặt trong mối tương quan với các bố cục trong vườn của Renoir, ta càng thấy rõ sợi dây liên kết giữa hai người. Vũ Cao Đàm hết sức ngưỡng mộ Renoir, góp phần định hình phong cách sáng tác của ông. Tuy nhiên, đây không đơn thuần là bắt chước hội họa châu Âu. Thay vào đó, Vũ Cao Đàm tiếp nhận một đề tài hiện đại mang đậm tinh thần Pháp rồi chuyển dịch nó qua trường từ vựng của nghệ thuật Việt Nam. Áo dài, đường nét gương mặt, kiến trúc và bối cảnh văn hóa của các nhân vật đặt bố cục vững chắc trong Việt Nam những năm 1930. Kết quả là một cuộc đối thoại tinh tế giữa tính hiện đại của chủ nghĩa Ấn tượng và bản sắc Việt Nam.

Sự tổng hợp ấy biểu hiện mạnh mẽ nhất chính ở chất liệu. Lụa có một truyền thống lâu đời và sâu sắc trong nghệ thuật châu Á, được trân trọng bởi vẻ tinh tế, độ sáng và sự thanh nhã. Vũ Cao Đàm đã biến chất liệu truyền thống này thành một phương tiện đầy tinh vi cho hội họa hiện đại. Lụa pongee mịn dùng cho những tác phẩm ở quy mô như thế này hẳn phải được chuẩn bị đặc biệt và, xét độ hiếm cũng như kích thước của vật liệu, nhiều khả năng được lấy từ Việt Nam. Bề mặt mong manh của lụa đòi hỏi độ nhạy cảm đặc biệt trong từng thao tác. Khác với toan, lụa lập tức hút màu và mực, gần như không để lại cơ hội chỉnh sửa. Bởi vậy, mỗi nét đều hàm chứa chủ ý đặc biệt cao. Tính tức thời này thể hiện đặc biệt rõ trong đường nét của Vũ Cao Đàm. Được đào tạo trong truyền thống thư pháp Trung Hoa, ông hiểu rõ khả năng biểu cảm của một nét bút đơn lẻ. Nền tảng thư pháp giúp ông nhìn đường nét không đơn thuần như phương tiện diễn tả hình thể mà còn như một phương tiện chuyên chở cảm xúc và tính cách.

Trong Hoa viên nhã đàm, những đường viền thanh nhã của các nhân vật nữ, trang phục và cây cỏ xung quanh được tạo nên bằng những nét vẽ tiết chế nhưng uyển chuyển. Sự kiệm nét trong tạo hình được cân bằng bởi độ phong phú đặc biệt của bảng màu. Quả thực, màu sắc trong tác phẩm này là một trường hợp đặc biệt trong giai đoạn tranh lụa sớm của Vũ Cao Đàm. Mỗi người trong năm phụ nữ được phân biệt bằng màu áo dài mạnh mẽ và riêng biệt, tạo nên một nhịp điệu màu sắc trải dọc toàn bố cục.

Thay vì dựa vào những tông xanh lam và xám nhẹ thường thấy trong tranh lụa của ông, ở đây Vũ Cao Đàm sử dụng một bảng màu đặc biệt sống động. Màu sắc mang đến cho từng nhân vật một sự hiện diện riêng, đồng thời gắn kết cả nhóm, làm nổi bật cảm giác tự tin, sinh khí và tinh thần hiện đại của tuổi trẻ.

Xét đến cùng, Hoa viên nhã đàm là một tác phẩm về sự chuyển dịch văn hóa. Vũ Cao Đàm tiếp nhận ngôn ngữ thị giác của chủ nghĩa Hiện đại châu Âu – sự quan tâm đến nhàn tản, thời trang, màu sắc và trải nghiệm của đời sống hiện đại – rồi lọc nó qua thẩm mỹ, vật liệu và ký ức văn hóa Việt Nam. Kết quả không hoàn toàn thuộc về phương Đông, cũng không hoàn toàn phương Tây, mà mang dấu ấn riêng biệt của chính ông: một hình ảnh Việt Nam nhìn qua đôi mắt của một nghệ sỹ đã chọn Paris làm quê hương mới nhưng vẫn gắn bó sâu sắc với cội nguồn.

Tầm quan trọng của bức tranh càng được củng cố bởi nguồn gốc sở hữu nổi bật. Tác phẩm từng là điểm nhấn của phiên đấu giá quan trọng năm 2008 của Sotheby’s, Bộ sưu tập quan trọng về hội họa Việt Nam, với sự góp mặt của Bộ sưu tập Philip Ng, và từ đó đến nay vẫn thuộc các bộ sưu tập tư nhân. Hơn tám thập niên sau ngày ra đời, Hoa viên nhã đàm vẫn là minh chứng đặc biệt cho tham vọng nghệ thuật của Vũ Cao Đàm ở đỉnh cao giai đoạn đầu sự nghiệp. Tác phẩm đứng trong số những thành tựu quan trọng nhất còn tồn tại của người nghệ sỹ.

…ông đã để mặc cho cảm quan của mình tự do dẫn dắt và luôn cố gắng gìn giữ sự chân thành. Nhờ vậy, ông tạo nên một phong cách cá nhân mà trong đó, con mắt phương Tây thích thú và kinh ngạc khi nhận thấy những dư âm châu Âu đã được hấp thụ vào hình thức Á Đông.

Từ châu Á, ông giữ lại cảm thức đồ họa và những dáng hình thanh thoát, được cách điệu trong các chuyển động mềm mại; chúng hiện diện trong những phong cảnh mà cấu trúc, giống như kiến trúc, tuân theo quy luật phối cảnh phương Tây, nhưng đường chân trời được đặt cao trên mặt tranh lại gợi nhớ những tiểu họa Ba Tư và ‘kakemono’ của Viễn Đông.

Các bức chân dung của ông được tạo khối tinh tế, với tính đồ họa đạt đến một mức độ thanh nhã cao, đặt trên nền xanh đậm, vừa đầy sức sống vừa trầm tối, gợi nhớ tới chủ nghĩa Nguyên thủy – những người Vũ Cao Đàm đặc biệt ngưỡng mộ và cảm thấy gần gũi.

Kỹ thuật của ông vẫn gắn với chất liệu nền của tổ tiên: lụa, nơi Vũ Cao Đàm trân trọng độ tinh tế của sợi vải và sự mềm mại trong cách màu thấm vào bề mặt. Nhưng có lẽ chính trong lựa chọn màu sắc mà Vũ Cao Đàm biểu hiện cá tính một cách rõ rệt và tinh tế nhất.

Jeannine Auboyer, chuyên gia tại Bảo tàng Cernuschi, France Illustration (1946)

Kết quả đấu giá nổi bật của Vũ Cao Đàm

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm, “Những người phụ nữ tắm (Femmes au bain)” (1944), mực và bột màu trên lụa, 50 × 60,3 cm, Christie’s Hồng Kông, 3 tháng 12 năm 2020, lô 207. Giá bán: 8.050.000 HKD, tương đương 1.038.535 USD. Kỷ lục đấu giá của nghệ sỹ.
“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm, “Phong cảnh thiếu nữ áo xanh (Jeune femme en bleu dans un paysage)” (khoảng 1935–1940), mực và bột màu trên lụa, 74 × 55 cm, Sotheby’s Hồng Kông, 7 tháng 10 năm 2022. Giá bán: 5.040.000 HKD, tương đương 641.997 USD. Mức giá cao thứ tư.

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s Vũ Cao Đàm, “Thiếu nữ đang ngồi (Seated Lady)” (khoảng 1935–1940), mực và bột màu trên lụa, 74 × 55 cm, Sotheby’s Hồng Kông, 07.10.2022. Ước tính: 3.500.000–5.500.000 HKD, tương đương 641.997 USD. Mức giá cao thứ tư.

“Buổi chuyện trò của những quý cô trong vườn” của Vũ Cao Đàm xuất hiện tại phiên đấu của Sotheby’s
Vũ Cao Đàm, “Hoa viên nhã đàm (Conversation d’élégantes au jardin)” (1939), mực và bột màu trên lụa, 85,6 × 114,5 cm. Bộ sưu tập tư nhân. Ảnh: Sotheby’s. Tác phẩm trong phiên đấu giá hiện tại của Sotheby’s Hồng Kông.

Thông tin phiên đấu giá

Triển lãm:
22–28.09.2026

Địa điểm:
Sotheby’s Maison, Hồng Kông
Landmark Chater, 8 Connaught Road Central, Central

Giờ mở cửa:
Thứ Hai–Thứ Bảy | 11:00–19:00
Chủ Nhật & ngày lễ | 11:00–18:00
(Đóng cửa lúc 18:00 ngày 28 tháng 9)

Thực hiện: Sotheby’s
Biên dịch: Art Nation

[1] Thiébault-Sisson, “Un sculpteur annamite”, Le Temps (1932), tr. 6.
[2] Anne Fort, Vũ Cao Đàm, nhà giả kim của ký ức: Giữa truyền thống phương Đông và hiện đại phương Tây (Vu Cao Dam, the Alchemist of Memory: Between Oriental Tradition and Western Modernity).
[3] Jeannine Auboyer, “Vũ Cao Đàm”, France Illustration (1946).
[4] Catalogue raisonné: danh mục tổng hợp toàn bộ tác phẩm của một nghệ sỹ nào đó.

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Đấu xảo 1931: Đông Dương trong tủ kính

Khám phá bức tranh toàn cảnh về cách nghệ thuật Đông Dương vừa “tiếp tay” cho sứ mệnh tuyên truyền của đế quốc, vừa ngầm khẳng định một bản sắc sáng tạo độc lập.

Phiên đấu giá quy tụ 15 kiệt tác của Léonard Tsuguharu Foujita sắp sửa được tổ chức

Sotheby's sắp sửa ra mắt "Trường từ của Foujita" - phiên đấu giá quy tụ 15 kiệt tác quý hiếm thuộc bộ sưu tập Lewis tại Hồng Kông, được định giá ước tính từ 17,8 đến 26,5 triệu HKD (tương đương 2,3-3,45 triệu USD).

Ấn phẩm