Tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời

Triển lãm “Người giữ thời gian – Cổ lai hy” tại Chillala – House of Art là cuộc hội ngộ ý nghĩa của 12 cây đại thụ mỹ thuật miền Nam sau 1975. Vượt qua những thăng trầm của lịch sử, hành trình sáng tạo bền bỉ của họ được tái hiện sống động qua những lát cắt độc đáo: từ mực thước hàn lâm, tối giản dồn nén, cho đến những bứt phá biểu hiện đầy tự do.

Read the English version here.

Triển lãm “Người giữ thời gian – Cổ lai hy” tại không gian Chillala – House of Art quy tụ mười hai gương mặt họa sỹ lão thành danh tiếng của nền mỹ thuật hiện đại miền Nam Việt Nam hậu 1975. Trong đó, có tới ba cặp đôi vợ chồng (Quách Phong – Huỳnh Thị Kim Tiến, Đoàn Quốc – Tạ Kim Dung và Lê Triều Điển – Hồng Lĩnh). Họ tuy hai mà một: khác biệt nhưng không thể thiếu nhau!

Các tác phẩm được lựa chọn trưng bày thể hiện loại hình, phong cách nghệ thuật đa dạng, cùng song hành trong một giai đoạn mỹ thuật Việt nhiều biến động. Qua thời gian dài lao động nghệ thuật hăng say cùng những cảm nghiệm cá nhân, nhãn quan của các họa sỹ đã được bồi đắp, lắng đọng rồi lặng lẽ đi vào tác phẩm, tạo nên tinh thần riêng biệt của họ.

Quan sát triển lãm này, ta khám phá ra ba nhóm họa sỹ với các đặc điểm sáng tác riêng. Đầu tiên là nhóm họa sỹ với tư duy tạo hình theo chuẩn mực truyền thống, kết quả của sự gắn bó lâu năm với môi trường đào tạo-học thuật. Họa sỹ Đỗ Thị Tố Phượng (1936-2026) là một trong những tên tuổi lớn của tranh lụa Việt Nam. Bà có lối tạo hình chừng mực nhưng đầy sức khơi gợi. Chủ đề tranh tập trung vào những khoảnh khắc đời thường và những nhịp điệu xuân thì của thiếu nữ như tắm suối, thêu thùa hay nghỉ ngơi.

Tố Phượng, “Tắm suối” (1980), lụa, 107 x 76 cm.

Đồng khóa với bà tại trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và cũng là bậc thầy tranh lụa, họa sỹ Nguyễn Thị Tâm (1936) lại mang đến các tác phẩm sơn dầu, như “Thác Bảo Lộc” và “Rạng rỡ mùa Sen” – chủ đề sáng tác yêu thích của bà. Không gian thiên nhiên trong tranh của bà mờ ảo, nhẹ nhàng và được giản lược, mang đến cảm giác bình an. Điều này đến từ quan niệm buông bỏ khi thực hành nghệ thuật của bà, vì “chỉ có như vậy thì tranh mới gói trọn được cảm xúc người vẽ.”¹

Tương tự, họa sỹ Tạ Kim Dung (1944) đem đến chất thi vị và tính nữ trong tranh sơn dầu của mình, với “Tuổi thanh xuân” hay “Giữa các nàng thơ”. Mỗi tác phẩm, hình sắc đều được chắt lọc vừa chừng.

Với họa sỹ Uyên Huy – tên thật Huỳnh Văn Mười (1950), cấu trúc là trọng tâm xuyên suốt trong quá trình sáng tác. Các tác phẩm có tổ chức rõ ràng và mạch lạc, cùng tư duy tạo hình chuẩn hàn lâm. Lối vẽ Tượng trưng khơi gợi suy tư nơi người xem, cùng hòa sắc khéo léo mang lại sự thống nhất về mặt thị giác cho các tác phẩm.

Tiếp theo là nhóm họa sỹ tiết chế với hình ảnh tối giản, tập trung vào cảm xúc trong tranh. Họa sỹ Quách Phong (1938) – nổi tiếng với dòng tranh lịch sử dân tộc và ký họa chiến tranh, giới thiệu đến công chúng các tác phẩm sơn mài và sơn khắc tiết chế hình-màu, không quá kịch tính nhưng gây ấn tượng với các đường kỷ hà khỏe mạnh và dứt khoát cùng sự kiểm soát chặt chẽ về nhịp điệu quan sát.

Quách Phong, “Mẹ con” (2002), sơn mài, 65 x 90 cm.

Là một người kiệm lời, họa sỹ Hoàng Minh Hằng (1946) lựa chọn dồn nén tâm tư và tình cảm vào các tranh lụa khổ lớn – một lựa chọn khó nếu không biết quản lý bố cục hài hòa và nhuần nhuyễn. Tranh bà xoay quanh các phong cảnh thiên nhiên trong ký ức và xung quanh bà, với hình thể được lược giản tối đa để nhường chỗ cho những khoảng trống của sự tĩnh lặng, cô quạnh và nỗi buồn man mác. Sau hàng chục năm làm nghề, bà đã đúc kết ra kỹ thuật “vẽ lụa không rửa” – dùng cọ lớn để xử lý tranh thay vì rửa lụa theo cách truyền thống, tránh làm mất độ bóng của lụa cho nền màu êm và trong suốt.

Họa sỹ Huỳnh Thị Kim Tiến (1952) thích vẽ về những đề tài giản dị và thân thuộc trong cuộc sống, như “Mẹ con” và “Hoa lục bình”. Tranh lụa của bà sâu mà vẫn trong trẻo, mang vẻ hài hòa chặt chẽ giữa hình và màu.

Thứ ba, đó là nhóm họa sỹ đã mở rộng giới hạn biểu đạt, với xu hướng Biểu hiện và Trừu tượng. Nằm ngoài chuẩn mực học thuật và từng nhận nhiều ý kiến trái chiều từ giới phê bình mỹ thuật về phong cách sáng tác, họa sỹ Lê Triều Điển (1943) vẫn luôn bền bỉ thực hành và nghiên cứu nghệ thuật. Tranh ông có sự đối lập gay gắt, màu sắc rực rỡ, với những nét gạch thô, đậm, nhiều góc cạnh, cùng ngôn ngữ ký hiệu lấy cảm hứng từ văn hóa Khmer, Phù Nam, Chân Lạp, v.v.. Tất cả thể hiện một tâm hồn tự do và những xao động nội tâm mạnh mẽ.

Lê Triều Điển, “Giữ lại những dòng trôi,” gốm.

Trước khi đến với Trừu tượng, họa sỹ Ca Lê Thắng (1949) có một nền tảng hội họa hàn lâm vững chắc sau nhiều năm học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Để tạo dấu ấn riêng với dòng tranh này, ông phải tập “lãng quên” những kỹ thuật hội họa cổ điển để làm quen với cách tạo hình Trừu tượng mới mẻ, gạn lọc. Loạt tranh “Mùa nước nổi” của ông tiêu biểu với những vệt màu và mảng khối cô đọng, tạo ra một không gian “nước dâng lên sau một đêm”, gợi về nỗi nhớ và ký ức miền quê sông nước Đồng Tháp Mười. Với ông, lối Tả thực khó lòng lột tả được quang cảnh mùa nước nổi đậm chất Nam Bộ này.

Tranh của họa sỹ-nhà thơ Hồng Lĩnh (1953) mang đậm tính thiền và tự sự, kết hợp sáng tác văn thơ trữ tình trên nền tranh trừu tượng. Ngẫm từng dòng thơ, ta tìm thấy sự phản chiếu của cuộc sống và thiên nhiên qua “Mùa xanh,” hay thân phận con người qua “Vẽ tôi.”

Ngoài ra, tạo hình cũng đi sâu vào khắc họa tính vật chất: bề mặt, khối và không gian. Là một nữ điêu khắc gia hiếm hoi của mỹ thuật Việt, Phùng Chý Thu (1942) chỉ thật sự thăng hoa với điêu khắc-phù điêu sau năm 2010 khi bà không còn vướng bận mưu sinh và gia đình. Tác phẩm của bà mượt mà, lãng mạn và say đắm với nguồn cảm hứng từ văn học-nghệ thuật dân tộc, tình yêu đời và tình yêu lứa đôi. Đỉnh cao trong kỹ thuật sáng tác của bà chính là khả năng biểu lộ “gương mặt đặc thù của phụ nữ Việt nơi gò má, khung hàm và đưa hồn cốt văn hóa vào bên trong chân dung”, như nhận định của họa sỹ Nguyễn Lâm.²

Phùng Chý Thu, “Đừng về” (2016), phù điêu, 82 x 124 cm.

Với kỹ thuật gò nhôm – dùng lực tác động các tấm nhôm phẳng thành tác phẩm ba chiều, họa sỹ Đoàn Quốc (1943) biến đổi bề mặt nhôm thô cứng và lạnh lùng trở nên mềm mại, giàu nhịp điệu, với cấu trúc hình khối mạnh mẽ.

Bên cạnh hội họa, họa sỹ Lê Triều Điển cũng đóng góp tác phẩm gốm sắp đặt “Giữ lại những dòng trôi.” Trong giai đoạn khó khăn của mỹ thuật Việt, ông là một trong những nghệ sĩ đầu tiên tự mày mò dựng lò và nung gốm. Tác phẩm có hình thù đơn sơ, mộc mạc, phản ánh đúng tinh thần “trở về ký ức” trong hội họa của ông.

Có thể nói, cuộc hội ngộ của những “người giữ thời gian” đã dẫn dắt người xem đi qua hành trình nghệ thuật được vẽ từ ký ức và những giao cảm lắng đọng của đời người. Ở đó, ta không chỉ trầm trồ trước từng khối hình, nét bút, mà còn cảm phục sức lao động đầy sáng tạo và bền bỉ theo tháng năm của họ.

Thực hiện và biên dịch: Hùng Nguyễn

[1] Trích phỏng vấn “Lão họa sĩ Nguyễn Thị Tâm – Một đời không ngủ với tranh lụa,” thực hiện bởi Lê Minh Hạ, đăng trên “Báo Phụ nữ” (2025).
[2] Mai Thuỵ, “‘Bến đợi’ của phụ nữ Việt,” báo “Tuổi Trẻ” (2020).

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Trên nếp nghê thường

Khám phá lịch sử và kỹ nghệ xa xỉ của chiếc "thường" - biểu trưng quyền lực của hậu phi triều Nguyễn.

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi

Hồi tưởng ký ức “vang bóng một thời” của các sản phẩm từ đồi mồi.

Kỷ lục mới cho tranh Phạm Hậu tại Sotheby’s

Bức bình phong "Đàn hươu trong rừng" của Phạm Hậu vừa lập kỷ lục tại phiên đấu của Sotheby's.

Ấn phẩm