Read the English version here.
Dự án “Dệt may và Sawu” khởi nguồn từ một khoản quyên tặng của Giáo sư Lim Tow Keang cho Bảo tàng NUS.¹ Đến nay, bộ sưu tập này đã đặt nền móng cho một sáng kiến dài hạn mà trong đó, bà và các sinh viên NUS College đi đến đảo Sawu (Indonesia) để tìm kiếm các cơ hội hợp tác và phục vụ cộng đồng địa phương. Khoản quyên tặng đó đã phát triển thành dự án này như thế nào?
Chúng tôi đã rất vui mừng khi nhận được khoản quyên tặng của Giáo sư Lim Tow Keang. Bảo tàng NUS vốn đã sở hữu một bộ sưu tập các hiện vật dân tộc học Đông Nam Á do ông William Willetts, cựu giám tuyển của chúng tôi, thu thập từ thập niên 1960 và 70. Khi Giáo sư Lim liên hệ với bảo tàng để hỏi về việc quyên tặng, ông đã bày tỏ mong muốn rằng những hiện vật dệt may này không chỉ được cất giữ trong kho, mà còn muốn biết chúng tôi sẽ làm gì với chúng. Chúng tôi là một bảo tàng đại học nên nghiễm nhiên, một phần kế hoạch chính là sử dụng các hiện vật này trong giảng dạy và nghiên cứu. Trong quá trình ấy, chúng tôi phát hiện rằng TS Genevieve Duggan, một nhà nhân chủng học, từng thực hiện luận án Tiến sỹ tại NUS về cộng đồng người Sawu, và đây là manh mối đầu tiên giúp chúng tôi tư liệu hoá dự án này. Trong vai trò giảng viên thỉnh giảng tại NUS College, tôi cũng hướng dẫn dự án của sinh viên, và tôi nhận ra rằng Sawu sẽ là một cơ hội học tập thú vị để các bạn sinh viên tham gia.
Từ quá trình làm việc với bộ sưu tập này và với cộng đồng dân cư ở Sawu, bà có quan sát gì về vai trò của nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ trong đời sống của người dân nơi đây?
Người Sawu là một nhóm dân tộc thiểu số, và cũng như các nhóm dân tộc đa dạng khác trên quần đảo Indonesia, dệt may thường phản ánh bản sắc văn hóa của họ. Những bản sắc bộ lạc ấy liên quan trực tiếp đến những câu chuyện về nguồn gốc của họ, và từ đó, những câu chuyện này lại bắc cầu đến một thế giới quan bản địa xoay quanh tính mùa vụ. Nghề dệt nằm ở trung tâm bản sắc mẫu hệ của người Sawu – ngay cả những câu chuyện về nguồn gốc của họ cũng phản ánh điều này, với hai truyền thống dệt riêng biệt được thể hiện trong câu chuyện thiêng liêng về Hoa Lớn và Hoa Nhỏ.

Cũng như nhiều xã hội truyền thống khác, tác động của chế độ thuộc địa và di sản ý thức hệ của nó, sự uy tiên xây dựng bản sắc dân tộc, cùng nền kinh tế thị trường hiện đại đều đã dần tác động đến cách nghề dệt thủ công Sawu được truyền thừa và trân trọng, ngay cả trong chính cộng đồng người Sawu. Đáng mừng là chính quyền Huyện Sawu, các cộng đồng dệt may, và lãnh đạo địa phương đã cùng nhau hợp tác để đăng ký các phương pháp và họa tiết dệt truyền thống trở thành di sản văn hóa phi vật thể của người Sawu, cho thấy nghề thủ công này vẫn được coi trọng.
Truyền thống dệt vải Sawu đã thay đổi theo thời gian như thế nào? Bà nghĩ những thay đổi đó là tốt hơn hay tệ hơn?
Các hiện vật được quyên tặng cho bảo tàng có niên đại từ thế kỷ 20, tức là chúng đều khá mới, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không tốt. Nhìn chung, chất lượng của nhiều hiện vật cho thấy cách truyền thống đã được bảo tồn và duy trì, và vẫn còn các nghệ nhân đang nhuộm và dệt với chất lượng nghiêm ngặt bằng các phương pháp truyền thống. Một hiện tượng mới hơn là sự xuất hiện của thuốc nhuộm hoá học mà một số thợ dệt bên ngoài các cộng đồng dệt chính đang sử dụng nhằm kiếm tiền nhanh chóng bằng cách làm ra nhiều sản phẩm hơn để bán cho khách du lịch. Các màu hoá học thì chói và lòe loẹt hơn nhiều so với thuốc nhuộm truyền thống; các họa tiết cũng có thể được làm theo đơn đặt hàng chứ không phản ánh họa tiết truyền thống được sử dụng trong dệt may Sawu.
Điều này không có nghĩa là việc bảo tồn di sản thủ công phải theo chủ nghĩa thuần túy. Chúng ta không cần phải khăng khăng đòi hỏi một sự chính thống tuyệt đối, với các phương pháp không bao giờ có thể thay đổi. Một trong những thay đổi được các thợ dệt tiếp thu là việc sử dụng sợi bông được sản xuất công nghiệp. Theo truyền thống, thợ dệt phải thu thập bông từ cây bông để kéo sợi, và sợi tự nhiên kéo bằng tay có kết cấu đặc thù riêng. Sợi sản xuất công nghiệp lại được se đều hơn, làm cho vải mịn hơn. Chúng cũng hấp thụ màu sắc rực rỡ hơn – khiến thợ dệt rất thích. Đây là một bước phát triển đáng hoan nghênh.

Một bước tiến khác mà các nghệ nhân Sawu muốn tìm hiểu là cách xử lý thuốc nhuộm để bảo quản ổn định, nhằm đảm bảo nguồn cung ứng quanh năm. Theo truyền thống, thuốc nhuộm màu lam được chiết xuất từ quá trình lên men cây nila (Indigofera tinctoria), vốn phát triển tươi tốt vào mùa mưa đầu năm; còn thuốc nhuộm màu đỏ lại được lấy từ rễ cây mengkudu được chế biến vào nửa cuối năm. Nếu không có cách bảo quản các loại thuốc nhuộm hữu cơ này, quy trình sản xuất một tấm vải dệt truyền thống có thể kéo dài cả năm trời dựa trên chu kỳ nhuộm tự nhiên. Việc áp dụng kho bảo quản này sẽ không làm gián đoạn nhịp điệu mùa vụ bản địa: việc sản xuất thuốc nhuộm vẫn phụ thuộc vào tính thời vụ của cây trồng – lượng dự trữ chỉ đảm bảo nguồn cung màu sắc ổn định vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Như thế, ta có thể thấy cách một truyền thống đang tiếp diễn có thể thích nghi và tiếp biến.
Bảo tàng NUS – có nguồn gốc từ năm 1955 – lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật Đông Nam Á đa dạng, từ dệt may, gốm sứ, đến tranh vẽ và vật phẩm thờ cúng. Theo bà, bộ sưu tập dệt may Sawu này cùng các bộ sưu tập khác tại Bảo tàng có vai trò gì trong việc nâng cao hiểu biết về nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ trong khu vực?
Một trong những giám tuyển đầu tiên của Bảo tàng NUS, ông William Willetts, từng nói như sau về gốm sứ và dệt may Đông Nam Á: “Gốm và gấm. Hai trong số những phát minh cơ bản nhất của nhân loại văn minh, và không nơi nào trên thế giới chúng lại giàu vẻ đẹp, sự đa dạng về hình thái cũng như hoa văn trang trí hơn những vùng đất này.” Trong những thập niên 1960 và 1970, khi gốm sứ và dệt may Việt Nam và Thái Lan chưa được đánh giá đúng mực với tư cách là những “tác phẩm nghệ thuật”, Willetts đã tích cực săn lùng chúng để bổ sung vào bộ sưu tập của University Art Gallery (tiền thân của Bảo tàng NUS). Tuy việc sở hữu các hiện vật này trong công tác nghiên cứu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chất liệu và kỹ thuật thủ công mỹ nghệ, quan trọng hơn cả, chúng cũng đem đến những hiểu biết sâu sắc về các nhóm người và lối sống bền vững tại Đông Nam Á. Ví dụ, việc nhận thức rằng một mảnh vải dệt cần rất nhiều thời gian để hoàn thành chính là điểm khởi đầu để thấu hiểu ý niệm riêng biệt về “thời gian” của một nền văn hóa. Nó cũng khiến ta càng trân quý thêm một hệ quả tất yếu rằng nông nghiệp và mùa màng không thể vội vàng hay tối đa hóa, mà đều thuận theo mùa vụ riêng.

Ngoài ra, cũng có những sự giao thoa giữa các hiện vật dân tộc học như vải vóc với những vật thể được xem là ”mỹ thuật”. Ví dụ, một mảnh vải dệt từ cao nguyên Việt Nam tự nó có thể là vật phẩm đẹp đẽ để nghiên cứu trong bảo tàng; thế nhưng trưng bày nó trong bảo tàng lại có nguy cơ tách rời nó khỏi bối cảnh sinh hoạt ban đầu. Để khắc phục điều này, Bảo tàng NUS đã và đang làm việc với bộ sưu tập Tranh thời chiến Việt Nam của Dato’ N. Parameswaran, trong đó có những hình ảnh rõ nét về người dân tộc thiểu số Việt Nam tham gia kháng chiến. Những tác phẩm này giúp ta thấy trang phục được mặc như thế nào và do ai mặc. Trong bối cảnh một bảo tàng đại học, những tư liệu này đem lại bài học nhập môn văn hoá cho sinh viên, đặc biệt là với các bạn đang chuẩn bị nghiên cứu thực địa.
Theo bà, tại sao bảo tàng đại học như NUS Museum lại cần phát triển các dự án như “Dệt may và Sawu”? Và bộ sưu tập này sẽ tiếp tục được sử dụng như thế nào trong các nghiên cứu tương lai?
Chúng tôi hy vọng sẽ phát triển các dự án tư liệu hóa, xuất bản và triển lãm không chỉ về nền dệt may Sawu, mà còn về các sản phẩm từ các vùng khác trong bộ sưu tập của Giáo sư Lim Tow Keang và bộ sưu tập Willetts. Mặc dù đây về cơ bản đều là các tư liệu nhân chủng học, việc xem xét chúng từ góc độ lịch sử thiết kế cũng có thể sẽ rất thú vị.

Có rất nhiều điều mà một trường đại học có thể học hỏi từ các nền văn hoá truyền thống và bản địa. Trong thế giới kỹ trị ngày nay, các giải pháp công nghệ và tính hiệu quả được đặt lên hàng đầu – nhưng điều này cần được xem xét lại. Nhiều giả định của chúng ta về tiến bộ và giá trị vốn bắt nguồn từ tư duy thuộc địa: chúng ta đặt giá trị tiền tệ lên các nguồn lực và quy trình mà ta tin rằng sẽ giúp ta đạt được sự phát triển kinh tế và, có lẽ là, chất lượng cuộc sống. Vì các ngành nghề và thực hành thủ công truyền thống không “mở rộng quy mô” theo cùng một cách, chúng bị xem là không “có giá trị” và bị bỏ rơi vào quên lãng. Ta thường đề cao tính “liên ngành,” trong khi trên thực tế, một hệ thống giáo dục kỹ trị ngày càng gạt bỏ việc nghiên cứu và thấu hiểu văn hóa nhân loại, cụ thể hơn là các hoạt động sáng tạo và tái tạo làm nên bản chất con người, như nông nghiệp hay ngư nghiệp. Các dự án như “Dệt may và Sawu” dẫn dắt ta quay về với các tập tục con người và vốn trí tuệ truyền đời. Tôi luôn tin rằng việc kết hợp các mô hình truyền thống với các công nghệ hiện đại sẽ góp phần rất lớn vào việc giải quyết các vấn đề cấp bách của thế giới.
Thực hiện và biên dịch: Nguyễn Lê Thủy Tiên
[1] Vào năm 2023, Bảo tàng NUS nhận được khoản quyên tặng 123 hiện vật dệt may từ giáo sư Lim Tow Keang, với số lượng đáng kể trong bộ sưu tập này đến từ đảo Sawu, thuộc tỉnh Đông Nusa Tenggara, Indonesia.


