Read the English version here.
Từ trước Thế Chiến thứ II, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ bằng đồi mồi sản xuất từ Hà Tiên rất được người trong và ngoài nước ưa chuộng. Đó là các món đồ dùng trong nhà, phô diễn vẻ đẹp lộng lẫy nhờ làm bằng vảy đồi mồi có màu vàng, nâu, nâu đen rất sang trọng và có chiều sâu.
Ở những năm 1950 và 1960, gia đình nào có hộp đựng đồ trang điểm hay lược chải bằng đồi mồi chứng tỏ là sang trọng hoặc từng có thời ăn trắng mặc trơn. Trong vài căn biệt thự ở Phú Nhuận, Bà Chiểu có treo con đồi mồi khô trên tường, mặt ngước lên cao, vẩy bóng loáng rất đẹp.

Sau năm 2000 một chút, đi về đảo Phú Quốc công tác còn thấy ở sân bay bán những con đồi mồi treo tường, giá khoảng hơn 2 triệu đồng một con. Phải chăng đây là con “thịt mỏng” như có người gọi?
Sản phẩm đồi mồi từ lâu được xem là ngành mỹ nghệ sang cả ở miền Nam. Tạp chí Pháp “Indochine, Sudest asiatique (Đông Dương, Đông Nam Á)” số 29 (05.1954) khi đưa đậm về trận Điện Biên Phủ vẫn có tới bốn trang về đồi mồi miền Nam của Francois Nivolon. Sau đó, báo “Sáng dội miền Nam” số 5 (05.1963) cũng có bài viết về đồi mồi Hà Tiên của Phạm Sanh Thiên và Trịnh Thiên Tử. Theo các tác giả, đồi mồi được biết tiếng nhiều nhất là ở vùng Hà Tiên nhưng còn có từ các vùng lân cận đưa về. Ngư dân Hà Tiên muốn bắt đồi mồi phải đến hòn Thổ Chu hay các đảo nhỏ khác. Trong vịnh Thái Lan, ngư dân hai làng Samit và Lục Sơn (làng Việt ở Campuchia, cách Hà Tiên 9km) bắt được nhiều đồi mồi nhứt.
Có thể bắt đồi mồi quanh năm nhưng thường người ta chờ đến mùa chúng lên bờ đẻ trứng, khoảng cuối tháng 11 ta. Có câu: “Vông có bông thì đồi mồi làm ổ”, nhìn thấy cây vông sắp trổ bông lo chuẩn bị đồ nghề là vừa.

BỐN CÁCH BẮT
1. Nằm bãi: Từ tháng 11 đến tháng 2 âm lịch mỗi năm, chúng sẽ đẻ ba lần và chỉ ban đêm. Lần đầu đẻ 120–150 trứng, lần hai 80–120 trứng và lần cuối 60–100 trứng. Ngư dân có kinh nghiệm biết bãi nào chúng lên để đẻ và đợi đêm xuống, nhẹ chân đến đó. Sau khi moi cát đẻ xong, đồi mồi dùng bốn chân lấp lại và dùng ngực nện xuống thật bằng. Người ta thường để nó đẻ xong mới bắt, như vậy được thêm trứng có thể ấp. Khi gặp ánh đèn pin rọi, đồi mồi không chạy được và bị lật ngửa lên. Nó không tự lật lại được nên cứ để yên đó, đi tìm con khác. Đến sáng, dồn cả lại, nhốt vào chuồng. Cách bắt này chỉ cần một người khỏe mạnh và cây đèn pin. Số lượng tuỳ may rủi.
2. Dùng lưới: Dùng cái lưới dài vài trăm thước, rộng ba thước, lỗ rộng chừng bốn tấc, dưới có chì dằn và trên có phao. Bốn ngư dân lên thuyền đến địa điểm có đồi mồi, phải mang theo thức ăn vì đi cả tháng mới về. Lưới được giăng chung quanh và thợ lặn xuống ở giữa, khuấy động làm cho đồi mồi bơi ra bốn phía và mắc lưới.
3. Dùng lưỡi câu: Đồi mồi thường sống ở những nơi có rặng đá vì có nhiều mồi vừa để tránh nước chảy. Thợ giăng một hàng lưỡi câu cách nhau chừng ba tấc quanh rặng đá, sát đáy đợi đồi mồi lội tìm thức ăn mắc phải. Nó càng cựa quậy càng dính thêm vào các lưỡi câu bên cạnh.
4. Đâm lao: Cây lao có ngạnh để khỏi tuột khi đâm vào thịt và phía sau có cột sợi dây dài, đầu dây cột vào ghe hay vào phao. Khi gặp đồi mồi nổi trên mặt nước, thợ phóng lao vào rồi thả phao nổi cho nó kéo chạy đi, khi nào mệt mới kéo lại. Có thợ tài đến mức phóng lao không làm hư bể bất cứ cái vảy nào để giữ giá khi bán ra.
Ba cách sau có thể thực hiện quanh năm nhưng rất ít người chuyên về nghề này vì đa số là ngư dân, khi nào có sẵn phương tiện hay đến mùa mới đi bắt. Mỗi mùa, một nhóm trung bình bắt được 100 con.

Tạo sản phẩm
Mỗi con đồi mồi có khoảng 13 vảy, thường được gọi là một cỗ. Con dài cỡ 9 tấc, ngang 7 tấc có vảy dài 2 tấc, rộng 1,5 tấc. Sau khi lấy hết thịt, người ta úp mu đồi mồi lên ngọn lửa đốt cho ấm rồi lột vảy ra. Con càng già, vảy càng dễ gỡ.
Giá trị của vảy đồi mồi tuỳ theo màu sắc: hồng anh đào, đỏ hoe và vàng, đỏ nâu, đen chấm vàng và đen. Số lượng sản xuất vảy trung bình 200 kg mỗi năm.

Đến thập niên 1960, ở Hà Tiên có chừng năm tiệm, mỗi tiệm có trên dưới chục thợ chuyên làm đồ đồi mồi. Cách thức đại khái:
Đồi mồi treo tường: sau khi mổ ruột và rửa sạch, ngâm trong nước thuốc vài ngày. Sau đó, phơi nắng ba bốn ngày cho khô. Trong khi phơi, vì sức nóng, vảy đồi mồi cong lên. Sau khi chỉnh sửa lại, dùng dao nạo phần phía trên vảy cho đi hết một lớp mỏng rồi đánh bóng bằng nhiều loại lá, gọi là giồi bóng, sau cùng là vôi thật mịn. Theo tác giả Phạm Kim Khánh trong bài “Đồi mồi” trên báo “Thế Giới Tự Do” tập XI số 7, cần bốn lượt giồi. Đầu tiên bằng lá duối có lông nhám. Lần nhì bằng lá nhám mịn hơn gọi là lá chiều. Lần thứ ba bằng lá nhám khác thật mịn là lá ngài. Sau cùng dùng vôi bột phi thật khô và rây thật mịn rắc lên cái khăn mềm để giồi lên vảy. Lần này thì vảy lên nước, bóng như có lớp sơn dầu và màu sắc nổi lên.
Làm đồ dùng: Muốn làm món gì, hơ lửa vỏ đồi mồi hay cho vào nước nóng để mềm, dễ uốn rồi cho vào khuôn. Sau ba ngày lấy ra giồi bóng. Muốn làm đồ vật có chi tiết nhỏ như lược chải tóc phải dùng lưỡi cưa thật nhỏ và cưa nhẹ tay. Vảy to dùng làm ví xách tay, vảy nhỏ dùng làm miếng gẩy đàn. Cho phái nữ còn có trâm dắt tóc, quạt, vòng đeo tay, cà rá v.v., cho đàn ông là hộp đựng thuốc lá, ống điếu, nút tay áo v.v..

Vì nhiều lý do, ngành này tuy lâu đời vẫn nhỏ lẻ dù các sản phẩm ngày càng tinh xảo. Một số được bán ra nước ngoài. Riêng trong nước, bị sự cạnh tranh của loại đồ xi mạ nhiều mầu sắc nên từ thập niên 1960 số người tiêu thụ ít dần đi.
Ở Hà Tiên còn có hai loại rùa biển là “bà con” với đồi mồi là con “thịt mỏng” và con “vích cỏ”. Con ‘’thịt mỏng’’ giống đồi mồi về hình dáng nhưng vảy bé hơn, thường chỉ dùng đánh bóng treo tường. Con “vích cỏ” vảy chỉ có lằn chứ không nổi thành khớp như đồi mồi.
Người ta còn nuôi đồi mồi trong nhà. Ở thập niên 1960, ở Hà Tiên có chừng mười gia đình và ở các Hòn Đầm, Hòn Ngang cũng có vài nhà nuôi chúng. Thường, đồi mồi nuôi ngoài nắng vảy có màu đỏ sậm, nuôi trong mát có màu vàng điểm vài đốm hồng hoặc đỏ.
Vang bóng một thời
Thời xưa, mỗi năm một người có thể bắt được trên ngàn trứng để ăn nên số lượng đồi mồi giảm dần. Do đó, từ thời Pháp thuộc đã có nghị định 21.04.1923 của chánh phủ Nam Kỳ cấm “nhặt, tiêu thụ và bán trứng đồi mồi”. Nhưng người ta vẫn bắt đồi mồi con nên nghị định bổ túc 25.04.1925 cấm: “Bắt bằng mọi cách, đồi mồi con trong thời gian từ 1 tháng 1 đến cuối tháng 4”, tức trong mùa đồi mồi đẻ xong và con vừa nở.
Trước năm 1990, đồi mồi còn phổ biến ở các tỉnh ven biển nước ta nhưng sau do bị khai thác làm đồ mỹ nghệ bán cho khách du lịch nên số lượng bị suy giảm nghiêm trọng. Do đó, đồi mồi được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam năm 2000, được bảo vệ ở cường độ cao nhất, mọi hành vi khai thác, buôn bán đều là bất hợp pháp.
Thực hiện: Phạm Công Luận


