Read the English version here.
Đầu thế kỷ XX, Paris không chỉ là một thành phố mà còn được biết đến như thủ phủ của chủ nghĩa hiện đại và mang sức hút lớn với nhiều nghệ sỹ nước ngoài. Lần theo hành trình các nghệ sỹ Nhật Bản và Việt Nam khi cùng làm việc trong mạng lưới chung tại Paris, triển lãm “Khi mặt đất neo giữ” hướng tới hình thức hội họa hiện đại bắt rễ sâu sắc từ cội nguồn truyền thống. Léonard Tsuguharu Foujita, Zenzaburō Kojima, Lê Phổ hay Mai Trung Thứ đến Paris không phải những người theo sau mà là nhà tư tưởng độc lập. Họ đều định hình thực hành nghệ thuật cá nhân để đóng góp vào sự đa dạng của mặt bằng chung bấy giờ. Mặt khác, triển lãm đồng thời mở ra không gian địa – mỹ học về sự ly hương, nơi bản sắc được kết nối hài hòa với tư duy mới được tích lũy trong quá trình viễn xứ.
Ý niệm địa – mỹ học về sự ly hương kể trên được gửi gắm chính trong nhan đề “Khi mặt đất neo giữ” (As the Ground Holds). Từ “ground” ở đây đồng thời gợi đến mảnh đất quê hương mà các nghệ sỹ rời xa, và lớp nền vật chất của chính tác phẩm hội họa. Sự ly hương khiến những điều vốn từng vô hình trở nên hữu hình: những quy ước nghệ thuật và văn hóa được tiếp nhận một cách tự nhiên từ nhỏ không còn là những mặc định vô thức, mà hiện lên như những lựa chọn có ý thức khi đặt cạnh các quy ước của thế giới mới mà họ bước vào. Chính vị thế giữa hai miền văn hóa ấy đã trở thành một đặc ân với các nghệ sỹ, đồng thời là nguồn nội lực sáng tạo, giúp họ kiến tạo nên những ngôn ngữ nghệ thuật vừa xuất phát từ ký ức về quê hương, vừa rộng mở trước chân trời của hiện đại.

Trong đó, Léonard Tsuguharu Foujita và Zenzaburō Kojima là hai nghệ sỹ Nhật Bản đến châu Âu với tâm thế đại diện cho quốc gia độc lập, có lịch sử lâu đời và có tầm ảnh hưởng lớn. Họ ý thức được vị thế của nền mỹ thuật quê hương với trào lưu Japonisme từ cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy tính trao đổi từ châu Á đến châu Âu thay vì chỉ từ châu Âu sang châu Á.
Với Foujita, sự trao đổi ấy được thể hiện qua lớp nền trắng sữa (nyūhakushoku) đặc trưng là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu nhằm dung hòa truyền thống hội họa Nhật Bản với chất liệu sơn dầu phương Tây. Bề mặt này vừa gợi nhớ đến truyền thống làm gốm sứ (jiki) và tranh thủy mặc (sumi-e) của Nhật Bản, vừa chứng minh rằng mỹ học của vùng đất này có thể mở rộng chính khái niệm về hội họa hiện đại thông qua thử nghiệm của người nghệ sỹ. Khác với Foujita, chuyến đi của Zenzaburō Kojima trong giai đoạn 1925 – 1928 đã giúp Kojima mở mang thêm về chủ nghĩa Dã thú, đặc biệt là cách kiến tạo bố cục và không gian. Từ những trải nghiệm này, họa sỹ quay về Nhật Bản để bắt đầu hành trình chuyển hóa những gì học được thành một tầm nhìn đổi mới về hội họa yōga (hội họa theo phong cách phương Tây). Nhờ vậy, các tác phẩm của ông mang hình khối chắc khỏe hơn, không gian có chiều sâu hơn nhưng vẫn diễn đạt mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người theo lối đặc trưng của mỹ học Á Đông. Chủ nghĩa hiện đại ở đây không thay thế truyền thống mà giúp truyền thống tìm thấy một phương thức biểu đạt mới.

Ở phía Việt Nam, Lê Phổ và Mai Trung Thứ đại diện cho lớp họa sỹ thừa hưởng nền giáo dục từ Trường Mỹ thuật Đông Dương và định cư tại Pháp từ thập niên 1930. Quá trình hội nhập của họ vào môi trường nghệ thuật Paris chính là sự tiếp nối của sự giao thoa Pháp Việt trong những năm tháng Việt Nam còn là thuộc địa. Trong các sáng tác của cả hai danh họa, hoài niệm về quê hương hiện diện như một dòng chảy bền bỉ, điển hình với hình ảnh phụ nữ, trẻ em, hay hoạt cảnh bình dị trong đời sống ở quê nhà. Kết hợp với bố cục, cách xử lý ánh sáng và ngôn ngữ tạo hình tây phương bấy giờ, những gì hai họa sỹ mang đến Paris là một Việt Nam đã được tái cấu trúc trong ký ức và trải nghiệm xa xứ.

Tại triển lãm, các tác phẩm được sắp đặt theo hình thức đối thoại trực tiếp: một bức tranh khỏa thân của Henri Matisse năm 1928 đặt cạnh một bức khỏa thân do Foujita sáng tác cùng năm; những chiếc mặt nạ châu Africa và Châu Đại Dương đối trọng với tác phẩm mang tính hình tượng cách điệu năm 1917 của Foujita; những tác phẩm song hành giữa Foujita và Lê Phổ gợi nhắc các triển lãm chung của họ tại Pháp trong giai đoạn 1957 – 1959; hay tác phẩm của Mai Trung Thứ vẽ năm 1967 gợi nhớ về chiến tranh Việt Nam được đặt đối diện với tác phẩm của Foujita trong thời hậu chiến, cả hai đều sử dụng hình ảnh phụ nữ và trẻ em làm cầu nối hướng tới hy vọng và đề cao tình cảm cao đẹp của con người.
Theo Rishika Assomull, giám đốc cấp cao Villepin Hồng Kông, điều kết nối bốn họa sỹ không nằm ở sự tương đồng về phong cách, mà ở cách họ nhìn nhận bản sắc văn hóa như một quá trình luôn vận động thông qua những lựa chọn có chủ ý. “Họ cho thấy chủ nghĩa hiện đại có khả năng dung chứa nhiều lịch sử cùng lúc, cho phép những truyền thống khác nhau có thể đồng hiện trên một bề mặt hội họa mà không cần phủ định hay thay thế lẫn nhau. Theo nghĩa ấy, chất liệu trở thành một địa tầng của ký ức như lụa gắn bó mật thiết với Việt Nam hay lớp nền đặc trưng trong tranh Foujita mang theo tinh thần Nhật Bản. Quê hương vì thế được lưu giữ không chỉ trong hình ảnh, mà còn trong chính xúc cảm của bàn tay, trong quy trình chế tác và trong từng lớp vật chất của tác phẩm”. Chính ở điểm này, triển lãm “Khi mặt đất neo giữ” đặt ra câu hỏi về cách chúng ta nhìn nhận về địa lý và tầm ảnh hưởng của nghệ thuật. Ở đây, hiện đại được hình thành từ dịch chuyển đa chiều, nơi các nghệ sỹ Việt Nam và Nhật Bản không chỉ tiếp nhận mỹ học từ nhiều nguồn mà còn lưu giữ ký ức và nền tảng thẩm mỹ của quê nhà để không ngừng tái tạo nghệ thuật của mình và đóng góp vào việc mở rộng sự đa dạng của hội họa.

Đồng thời, triển lãm cũng ghi dấu mốc quan trọng trong định hướng lâu dài của Villepin với nghệ thuật Việt Nam. Thay vì tiếp cận từng nghệ sỹ đơn lẻ, gallery theo đuổi chiến lược kiến tạo di sản thông qua nghiên cứu chuyên sâu, tổ chức triển lãm, xuất bản học thuật, xây dựng mạng lưới hợp tác với các thiết chế văn hóa và thúc đẩy sự hiện diện của tác phẩm trong các bộ sưu tập bảo tàng quan trọng. Cụ thể, gần đây, Villepin đã từng bước đưa các tên tuổi Việt Nam vào những diễn ngôn quốc tế lớn hơn như đặt Lê Phổ đối thoại với Myonghi Kang, Fernando Zóbel và Zao Wou-Ki trong triển lãm “Thế giới nội tâm: nghệ thuật là nơi trú ẩn” (“Worlds Within: Art as Refuge – 2025) hay Lê Phổ, Mai Trung Thứ trong bối cảnh của các nghệ sỹ châu Á hoạt động tại Paris thế kỷ 20 với triển lãm “Khi mặt đất neo giữ” (As the Ground Holds – 2026). Thông qua chương trình quốc tế và các nền tảng mới bên ngoài Hồng Kông, Villepin hướng tới việc tiếp tục mở rộng những diễn ngôn về giao thoa văn hóa, với niềm tin rằng nghệ thuật Việt Nam xứng đáng được nhìn nhận và nghiên cứu ở một vị thế nổi bật hơn trên bản đồ nghệ thuật toàn cầu.
Thực hiện: Tâm Phạm
Biên dịch: Art Nation


