Read the English version here.
Sau khi tốt nghiệp khoa Hội họa Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội đầu những năm 2000, tôi dành một thời gian dài tập trung vào mảng tranh lụa, từ việc làm chủ kỹ thuật truyền thống đến nỗ lực mở rộng biên độ thực nghiệm cả về chất liệu lẫn chủ đề. Từ rất sớm, tôi đã muốn thách thức các định kiến cố hữu và khám phá những khả thể mới của chất liệu này. Với loạt tác phẩm “Siêu truyền dẫn” hay “Tầm cao mới”, tôi mong muốn phản ánh sự chuyển động của đô thị qua những hình ảnh mang tính biểu tượng như chiếc cột điện, loa phường, những tấm băng rôn, những ngôi nhà ống phủ kín bạt xây dựng, cùng đoàn người lầm lũi chạy xe máy phía bên dưới. Những bức tranh lụa không được bồi và lồng khung kính như thông thường mà hiện lên xù xì, mộc mạc dưới hàng đinh ghim nhựa sặc sỡ bao quanh. Cũng giống như những ngôi nhà ống trong đô thị, chúng chưa bao giờ ngừng nghỉ quá trình xây dựng và vươn mình lên tầm cao mới.

Song hành cùng với những thử nghiệm trong hội hoạ, tôi cũng thử sức với nhiếp ảnh và nghệ thuật sắp đặt như những cách thức ghi lại quá trình sáng tác và thu thập tư liệu nghiên cứu cho các dự án cá nhân của mình. Tiếp tục hành trình khám phá về đô thị với những dự án xoay quanh chủ đề nước và cây trong thành phố, thực hành nhiếp ảnh của tôi có bước chuyển dịch lớn khi theo học Thạc sỹ chuyên ngành Nhiếp ảnh tại Học viện Mỹ thuật Trung ương, Bắc Kinh. Khoảng cách địa lý kéo theo những lần di chuyển liên tục giữa 2 thành phố Bắc Kinh và Hà Nội đã mang lại cho tôi một “độ lùi” đủ xa để nhìn rõ hơn diện mạo thành phố dường như đã quá thân thuộc từ nhỏ. Ý niệm đó được thể hiện qua “Nhà Mặt Phố – phong cảnh nhân tạo của đô thị Việt Nam thời kỳ chuyển đổi”, dự án tốt nghiệp sử dụng thủ pháp lai ghép giữa nhiếp ảnh, kiến trúc và điêu khắc để tạo nên ngôn ngữ “phù điêu ảnh”. Phương pháp này với tôi như một cách để ”khảo cổ” các lớp lang chồng lấn của nhà ống đô thị qua nhiều thời kỳ, đồng thời là một khảo sát về sự biến chuyển của các cặp giá trị xã hội gắn liền với những đổi thay về thể chế và mô hình kinh tế. Bằng cách vượt qua những ranh giới truyền thống trong ngôn ngữ lụa lẫn nhiếp ảnh, tôi cố gắng tái dựng một ”hiện thực đô thị” mang tính cá nhân thông qua tư duy liên ngành, nơi nền tảng nghiên cứu xã hội học giao thoa với nghệ thuật thị giác.
Dự án này cũng trở thành bản lề mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo của tôi về chủ đề đô thị và ký ức, như ”Tôi đi tìm ngôi nhà chung” – một nghiên cứu về sự biến đổi hình dạng và công năng của những ngôi đình thờ tổ nghề trong khu Phố cổ; hay “Nhà Tây biến hình” – dự án kết hợp với nghệ sỹ, nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế nhằm “bóc lớp” và giải mã kiến trúc mặt tiền của những ngôi biệt thự Pháp hiếm hoi còn sót lại trước làn sóng đô thị hóa mạnh mẽ hai thập kỷ qua. Tại đây, ngôn ngữ “Phù điêu ảnh” lần nữa được thể hiện qua sự kết hợp giữa kỹ thuật diễn họa kiến trúc và mô hình ấn phẩm mỹ thuật, tạo nên một đối thoại mở trong chính không gian nhà Tây xinh đẹp của Manzi.

Tiếp nối mạch suy nghĩ đó, dự án “Thay hình đổi mặt” là chương tiếp theo trong hành trình hợp tác giữa tôi và Trần Hậu Yên Thế. Ở dự án này, ngôn ngữ nhiếp ảnh được tận dụng để bóc tách những câu chuyện và lớp lang lịch sử của hệ thống ”chuồng cọp” – khi mặt sau những dãy nhà tập thể bỗng biến thành mặt tiền nhà phố – cùng hàng hàng lớp lớp biển hiệu mọc lên từ sau Đổi Mới.
Những ám ảnh về ranh giới giữa không gian cá nhân và không gian tập thể tiếp tục được đẩy mạnh trong dự án “8m²”, bao gồm một tác phẩm sắp đặt ảnh và âm thanh quy mô lớn tại bảo tàng Đại học Mỹ thuật và Viện Goethe Hà Nội. Tác phẩm là kết quả sau một quá trình nghiên cứu điền dã tại nhà trọ của công nhân tại các khu công nghiệp ở ngoại ô Sài Gòn.
Các khảo cứu về đô thị trong thực hành nghệ thuật nhiếp ảnh của tôi có lúc đan xen trở lại với chất liệu tranh lụa, như dự án ”Những ngày màu đỏ” hay “Sắc màu của âm thanh”. Tại đây, yếu tố siêu thực được khơi gợi qua sự kết hợp giữa chất liệu lụa và âm nhạc: những chiếc loa phường trong tranh phát ra âm thanh của những bản nhạc vàng được thu âm bằng đĩa than trước năm 1975 tại Sài gòn, mời gọi người xem bước vào một không gian suy tưởng về lịch sử đô thị và ký ức tập thể.

Tiếp nối hành trình thử nghiệm ấy, sơn mài truyền thống cũng trở thành một mảnh đất thú vị khi kết hợp với nhiếp ảnh tự liệu. Dự án “Núi liền núi, sông liền sông” triển lãm tại Trung tâm Nghệ thuật Lumenvisum (Hồng Kông) hay ”Chuyện của 16 chiếc bàn cà phê” triển lãm tại Bảo tàng Bildmuseet (Thụy Điển) là một nỗ lực mở rộng thực hành nhiếp ảnh ý niệm qua việc kết hợp chất liệu sơn mài truyền thống và nghệ thuật thư pháp với nhiếp ảnh tư liệu đương đại. Tại đây, dữ liệu ảnh đóng vai trò như một chất xúc tác, tương tác cùng những chất liệu tưởng chừng khác biệt như thư pháp chữ quốc ngữ và sơn mài, từ đó gợi mở những câu hỏi suy tư về lịch sử trong tương quan với hiện tại và tương lai.
Nhiều năm qua, các dự án nghệ thuật cá nhân và dự án cộng đồng vẫn luôn song hành và đan xen trong thực hành nghệ thuật của tôi như một mối quan hệ hai chiều. Tại đó, ranh giới giữa mỹ thuật và nhiếp ảnh dần trở nên khó phân định – các chất liệu gặp gỡ và giao thoa một cách tự nhiên, như những tiếng nói cần thiết để định hình chính ý tưởng cho tác phẩm.
Thực hiện: Nguyễn Thế Sơn
Biên dịch: Art Nation


