Read the English version here.
Thưa bác Nhanh, nhìn lại hành trình hơn 36 năm gắn bó với tranh kiếng, có bao giờ bác nghĩ rằng chính những năm tháng là lính công binh tại chiến trường Campuchia đã rèn giũa nên một họa sỹ Trần Văn Nhanh tỉ mỉ như hôm nay không?
Tôi nghĩ mọi thứ trên đời này đều đến như cái duyên, mà cũng là cái số. Những năm 76–77, tôi học vẽ chân dung ở khu Cầu Mật, Quận 8, TP. HCM. Lúc đó chỉ nghĩ học cái nghề để mưu sinh. Rồi năm 1982, tôi nhập ngũ, biên chế sung vào Trung đoàn 549 Công binh. Nhờ biết vẽ, tôi được giao nhiệm vụ ở phòng ban vẽ họa cụ giảng dạy vũ khí, vẽ bản đồ chiến thuật.

Công việc vẽ của người lính công binh đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối, sai một ly là đi một dặm. Chính cái tính kỷ luật, sự chuẩn xác trong từng bản vẽ sơ đồ đó nó thấm vào máu mình lúc nào không hay. Khi giải ngũ về quê vào cuối thập niên 80, giữa lúc kinh tế còn khó khăn, tôi đi vẽ dạo, ai mướn gì làm nấy. Từ vẽ tranh tường, vẽ trên vải cho đến khi chạm mặt tấm tranh kiếng, tôi nhận ra mình không thể làm hời hợt được. Cái tính tỉ mỉ của người lính giúp tôi trụ lại được với nghề này, vì tranh kiếng chỉ cần sai một nét ở mặt sau là hỏng cả tấm kiếng mặt tiền.
Có một câu chuyện rất cảm động về việc bác đã gìn giữ tấm hình thờ của cha một người đồng đội suốt từ năm 1986 đến tận năm 2023. Điều gì khiến bác trân trọng một kỷ vật của người khác lâu đến như vậy?
Đó là cái tình, mà người lính thì quý nhất là cái tình đồng đội. Lúc tôi sắp ra quân năm 86, chú Diễn có nhờ tôi phóng lớn tấm hình thân phụ để làm hình thờ. Lệnh ra quân gấp quá, tôi mang theo tấm hình về Việt Nam với ý định vẽ xong sẽ gửi lại. Nhưng ở thời đó liên lạc khó khăn, mình về Long An, bạn ở quê xa, rồi bẵng đi mấy chục năm.

Suốt thời gian đó, tôi cất tấm hình cẩn thận trong tủ đồ nghề cũ. Tôi nghĩ, đây là hình thờ, là sự linh thiêng của gia đình người ta, mình đã nhận thì phải có trách nhiệm trả. Đến năm 2023, nhờ con trai tôi kết nối trên mạng, tôi mới gặp lại chú Diễn. Ngày trao lại tấm hình, thấy bạn mình vẫn khỏe, tâm nguyện của mình sau 37 năm cũng hoàn thành, tôi thấy lòng nhẹ nhõm lắm. Nghề vẽ cho tôi cơm ăn, nhưng chính những tình cảm như vậy mới khiến tôi thấy cái nghề mình nó cao quý.
Tranh kiếng là một nghề “vẽ ngược”. Bác đã tự mày mò kỹ thuật này như thế nào khi mà thời điểm đó ở Cần Đước chưa có ai làm?
Hồi đó tôi chủ yếu quan sát tranh kiếng vẽ cảnh nhà cửa có liễn đối làm ở Chợ Lớn là chính. Khi khách mang tranh cũ đến nhờ sửa, tôi tháo phần hậu ra để xem người ta đi nét ra sao, tô màu thế nào. Tranh kiếng nó ngặt nghèo ở chỗ mình vẽ mặt sau nhưng người xem nhìn mặt trước. Những gì chi tiết nhất, rực rỡ nhất phải vẽ trước, rồi mới bồi các lớp nền lên sau. Ngày đó tôi tự học, lượm kiếng cũ về cạo ra rồi tự vẽ chứ không có xưởng nào dạy cái nghề này, nhất là dân ”ngoại đạo”. Kiếng lúc đó cũng mắc tiền, nhà ai có tranh cũ bị hư thì họ chở lại nhờ tôi vẽ mới.

Nhiều khi đang vẽ nửa chừng, tôi phải lật đi lật lại tấm kiếng liên tục để kiểm tra độ loang màu, xem nó có đều, có bắt mắt hay không. Màu sắc phải hài hòa, không được quá gắt nhưng phải đủ độ sâu. Công cụ thì tôi cũng phải tự chế. Cọ bán ngoài chợ đôi khi không vừa ý, tôi phải tự tỉa lông, tự uốn cán để có những cây cọ chuyên dụng cho việc đi nét mảnh hay đổ màu loang. Người làm nghề như tôi quan niệm: ”Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Mình chọn nó làm kế sanh nhai thì mình phải sống chết với nó, phải hiểu nó như hiểu bản thân mình. Tôi nghĩ chắc là nghề chọn mình.
Bác từng nhắc đến việc ”dung hòa” giữa mẫu xưa và thị hiếu mới. Bác làm thế nào để những bức tranh thờ dán ốc, đề can xe hay rắc kim tuyến giữ được cái hồn cổ kính nhưng vẫn đẹp mắt theo lối hiện đại?
Tôi luôn tôn trọng mẫu cổ vì đó là truyền thống của người xưa. Tuy nhiên, thẩm mỹ của khách mỗi thời mỗi khác. Tôi học hỏi từ các mẫu cũ, rồi cải tiến thêm kỹ thuật dán ốc, dùng đề can, kim tuyến để tăng độ lấp lánh, sang trọng cho bức tranh. Mỗi thời họ chuộng mẫu mã khác nhau thì mình cũng phải có tính thức thời trong sáng tác.
Trước khi đặt cọ vẽ, tôi thường đọc qua câu chuyện hoặc nhân vật mình sắp thể hiện. Vẽ một vị thần, một vị thánh, mình phải làm sao để thổi hồn vào đó. Một bức tranh đạt yêu cầu là khi nhìn vào, khách thấy được sự uy nghiêm, sự che chở, thấy được cái ”thần” trong ánh mắt nhân vật. Đó là lý do tôi không bao giờ làm dối. Làm cho người ta như làm cho chính mình, làm dối là nó xấu, nhất là tranh kiếng nếu mà hời hợt thì màu nó vón cục, nhìn nó cứng nhắc.

Gần đây, cộng đồng rất bất ngờ khi biết bác là người thực hiện phục dựng các bức tranh gương Cung đình Huế trưng tại triển lãm “Nam Sử Hoạ Kiếng”. Cơ duyên này đã đến như thế nào?
Đây đúng là một thử thách lớn nhất trong đời làm nghề của tôi. Một nhóm bạn trẻ tâm huyết với văn hóa Huế đã tìm đến tôi. Các bạn có tài liệu, có hình ảnh và lòng nhiệt huyết, còn tôi có kinh nghiệm làm nghề.
Thú thật, khi nghe về tranh gương Huế là loại tranh mà hồi xưa phải đặt hàng tận bên Tàu mang về, tôi cũng có chút áp lực. Nhưng rồi cái máu nghề nghiệp nó trỗi dậy. Tôi muốn thử xem năng lực của mình tới đâu. Khi mình thực hiện thành công, cảm giác hạnh phúc lắm. Nó giống như việc mình chiến thắng bản thân, cũng như phần nào cùng các cháu nối lại một sợi dây văn hóa đã từng bị đứt gãy. Ở tuổi này, làm được việc đó, tôi thấy mình viên mãn.
Là người làm nghề qua nhiều thập kỷ, bác có cảm thấy buồn không khi thấy nghề vẽ tay truyền thống đang dần bị thay thế bởi tranh in máy công nghiệp?
Tiếc chứ! Nghề vẽ tay là văn hóa của miền Nam cả trăm năm nay. Tranh in máy thì nhanh, rẻ, nhưng nó vô hồn, tấm nào cũng như tấm nấy. Tranh vẽ tay nó có cái nét riêng, có cái sai số của con người nhưng chính cái đó mới tạo nên giá trị nghệ thuật.

Nói thì nói vậy nhưng tôi cũng thấy mừng vì gần đây các em, cháu trẻ bắt đầu quan tâm lại văn hóa truyền thống. Con trai tôi cũng đang theo nghề này phụ giúp tôi. Tôi luôn nói với con: ”Khách mua tranh còn thì văn hóa còn.” Mình cứ làm việc tỉ mỉ, tử tế thì khách sẽ không bỏ mình. Đồng tiền của khách là mồ hôi nước mắt, mình cầm của người ta thì phải trả lại bằng cái tâm đức của mình. Nhờ cái nghề này mà tôi nuôi được các con ăn học thành người, nên tôi trân trọng nó lắm. Tôi cũng không biết ông Tổ nghề vẽ tranh kiếng là ai. Nhưng tôi vẽ tranh bằng cái tâm cũng là cách tôi tri ân ông Tổ.
Nếu có một lời nhắn nhủ đến những bạn trẻ đang có ý định theo đuổi các ngành nghề truyền thống, bác sẽ gửi gắm điều gì?
Tôi chỉ muốn nói là hãy kiên trì. Nghề nào cũng vậy, đặc biệt là nghề thủ công, không thể vội vàng được. Nghệ thuật là sự trau dồi không ngừng. Khi mình đặt cái tâm vào tác phẩm, tác phẩm sẽ tự tiếng nói để khẳng định giá trị của mình. Đừng sợ nghề biến mất, vì cái gì thuộc về bản sắc, về linh hồn dân tộc thì sẽ luôn có chỗ đứng.
Xin cảm ơn bác Nhanh về những chia sẻ rất chân thành và sâu sắc này. Chúc bác luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tục gìn giữ những nét vẽ dân gian.
Thực hiện: Nguyễn Huy
Biên dịch: Art Nation


