Gabrielle Chanel và mối lương duyên năm 1931

Tháng 3 năm 1931, một chuyến viễn du xuyên Đại Tây Dương đã thay đổi quỹ đạo chuyển động của thánh đường thời trang Paris lẫn kinh đô điện ảnh Mỹ. Đó là thời điểm Gabrielle Chanel đặt chân đến New York rồi tiếp tục hành trình đến bờ Tây theo lời mời trị giá 1 triệu USD từ Samuel Goldwyn – ông trùm điện ảnh đứng sau United Artists.

TỪ NHỮNG VẾT NỨT TRIỆU ĐÔ

Năm 1929, bối cảnh nước Mỹ lúc bấy giờ đang chao đảo và kiệt quệ dưới những xung lực tàn khốc. Sau khi giá cổ phiếu hạ xuống mức chưa từng có ở thị trường chứng khoán New York, hàng triệu người bị mất sạch số tiền mà họ tích cóp cả đời. Bên cạnh đó, các nhà máy, ngân hàng theo nhau phá sản, người dân không còn phương kế sinh sống, nhà nước không thu được thuế, công chức không được trả lương, v.v. Doanh thu phòng vé của Hollywood cũng vì đó mà sụt giảm nghiêm trọng. Trong cơn khủng hoảng ấy, Goldwyn đã thực hiện một nước cờ chiến lược đầy táo bạo.

Ông nhận ra rằng, để lôi kéo công chúng tầng lớp trung lưu trở lại rạp phim, Hollywood không thể tiếp tục lặp lại những công thức kịch tính và phô trương mà cần một hấp lực mới mang lại giấc mơ về sự thượng lưu: đó là sự sang trọng, tinh tế và cấp tiến của Paris. Samuel Goldwyn muốn mượn tư duy của Gabrielle Chanel để nâng tầm hình ảnh các bộ phim Hollywood, biến màn ảnh thành một sàn diễn thời trang xa xỉ nhằm kích cầu khán giả. Theo ông: “Phụ nữ đến rạp phim, suy cho cùng, là để xem những người phụ nữ khác mặc g씹. Vì thế, bản hợp đồng triệu đô quy định Chanel không chỉ thiết kế phục trang trên phim cho các ngôi sao thuộc hãng MGM và United Artists, mà còn kỳ vọng bà sẽ định hình phong cách đời thực cho các minh tinh, biến họ thành những biểu tượng thời trang chuẩn mực cho phụ nữ Mỹ.

Samuel Goldwyn và Chanel ở Mỹ (1931). Ảnh: Quỹ Tín thác Gia đình Samuel Goldwyn Jr. / Học viện Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh.

Khi đặt chân đến Hollywood, Chanel mang theo một hệ tư duy hoàn toàn tương phản với thẩm mỹ đại chúng của nước Mỹ lúc bấy giờ. Ngay từ những ngày đầu quan sát, bà đã sớm nhận ra tinh thần tự do, năng động và phóng khoáng của phụ nữ Mỹ. Họ không giống như những quý cô Paris kiêu kỳ và khép kín; phụ nữ Mỹ di chuyển nhiều hơn, tự chủ hơn, và sự năng động đó chính là một “tương bản hoàn hảo” cho những thiết kế mà Chanel luôn theo đuổi.

Gloria Swanson cùng trang phục được đính kết kỳ công trong bộ phim câm “The great moment” (1921). Ảnh: Tổng hợp.

Tuy nhiên, thực tế tại các trường quay Hollywood lại là một cuộc chiến thẩm mỹ đầy cam go. Tư duy thời trang của Chanel cốt lõi nằm ở sự thanh lịch và quý phái. Ngược lại, Hollywood thập niên 30 lại là thế giới của sự phô trương, kịch tính và ước lệ. Phục trang điện ảnh Mỹ thời kỳ này gồm những thiết kế đính kết dày đặc để có thể nổi bật dưới ánh đèn sân khấu và những thước phim đen trắng có độ phân giải thấp. Sự thâm nhập của Chanel vào kinh đô điện ảnh đã để lại dấu ấn đậm nét qua các tác phẩm như “Tonight or Never” (1931) với sự góp mặt của Gloria Swanson, hay “The Greeks Had a Word for Them” (1932) của Ina Claire. Trên những thước phim này, khán giả được chứng kiến những phom dáng mềm rũ hơn, tối giản hơn. Chanel đã từ chối thiết kế những bộ cánh diêm dúa chỉ để phục vụ cho các góc máy; bà muốn các minh tinh phải toát lên vẻ thanh lịch tự nhiên, biến phục trang thành một phần căn tính của nhân vật.

Ina Claire với trang phục Chanel trong vai Madge Evans, “ The Greeks had a word for them” (1932). Ảnh: Tổng hợp.

Mối lương duyên triệu đô giữa Gabrielle Chanel và Hollywood, dù mang đầy tham vọng thẩm mỹ, rốt cuộc lại kết thúc bằng một sự rạn nứt không thể cứu vãn. Sau khi hoàn thành phục trang cho ba bộ phim, Chanel quyết định chấm dứt hợp đồng và quay trở lại Paris. Nguyên nhân nằm ở sự xung đột không thể thỏa hiệp giữa hai hệ tư duy: sự thanh lịch tối giản Pháp và tính kịch nghệ thực dụng Mỹ. Chanel đã từ chối biến các thiết kế của mình thành thứ phục trang cường điệu chỉ để phục vụ cho các góc máy hay thị hiếu đại chúng.

Gloria Swanson cùng thiết kế của Chanel trong “Tonight or Never” (1931). Ảnh: Photofest; Phục chế màu bởi Lee Ruelle.

Âm hưởng đến tương lai

Dù mối lương duyên năm 1931 dừng lại sau vài năm, ý nghĩa của chuyến đi này vẫn mang tầm quan trọng – đặt nền móng cho mối quan hệ cộng sinh giữa điện ảnh và thời trang cao cấp. Gần một thế kỷ sau, cuộc truy hồi lịch sử này trở thành nguồn cảm hứng cốt lõi để Giám đốc Sáng tạo Matthieu Blazy tạo nên BST Chanel Métiers d’Art 2026. Đối với Blazy, bối cảnh New York và Hollywood những năm 1930 không phải là một hoài niệm thông thường, mà mang ký ức tổng hòa của những phân cảnh xã hội, những vết cắt giai cấp và giấc mơ Mỹ vươn lên từ đổ vỡ của cuộc Đại suy thoái, từ đó tôn vinh sự kiêu hãnh của cả hai phía. Bằng cách chọn ga tàu điện ngầm Bowery (New York) làm sàn diễn, Blazy đã hoàn thành nốt chương còn lại của cuộc đối thoại. Nếu năm xưa, Chanel mượn sự hào nhoáng của Hollywood để đưa tư duy thanh lịch vào đời sống Mỹ, thì năm nay, Blazy mượn chính sự hỗn loạn, bụi bặm của đô thị Mỹ để giải phóng các kỹ nghệ thủ công hàn lâm Pháp, đưa chúng chạm vào những lát cắt lịch sử rực rỡ và chân thực nhất của thế kỷ trước.

BST Métiers d’Art 2026 tại ga tàu Bowery, New York. Ảnh: Chanel.

Thực hiện: Hồng Ánh
Bài viết lần đầu xuất hiện trong Art Nation Workroom Edition 2026.

[1] A. Scott Berg, “Goldwyn: Một tiểu sử” (1989).

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Nội hàm và ngoại hiện của hành vi trong “Cứ thế vào vườn”

"Cứ thế vào vườn" để suy ngẫm về phương thức trình hiện, tính tác giả và căn tính trong nghệ thuật trình diễn.

Khi tay nghề dệt nên di sản

Khám phá điểm hội ngộ của các nhà nghề thủ công trong BST Chanel Métiers d’Art 2026.

Chanel Métiers d’art 2026: Hợp lưu văn hoá Mỹ

BST Chanel Métiers d’art 2026 là tập hợp của các biến thể hỗn loạn có chủ đích, mỗi chi tiết góp phần thể hiện một lát cắt của New York trong quá khứ và hiện tại.

Ấn phẩm