Thanh đàm cổ ngoạn

Nghiêm Giang Anh (bút hiệu Anh Hoa) là luật sư, nhà sưu tập nghệ thuật, đồng thời là tác giả cuốn sách chuyên khảo về mỹ thuật và cổ vật “Thanh đàm Cổ ngoạn: Mỹ thuật Việt” (NXB Mỹ thuật, 2026). Trong bài viết được lược trích từ ấn phẩm này, anh dẫn dắt người đọc bước vào thế giới biểu tượng của mỹ thuật Việt cổ qua ngàn năm văn hiến.

Read the English version here.

Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, nếu nhìn ở tầng sâu hình tượng và biểu tượng, là một lịch sử giàu tính liên tục nhưng luôn vận động biến chuyển. Bên dưới những biến thiên về triều đại, địa giới, tôn giáo hay thể chế chính trị là sự tồn tại bền bỉ của một hệ thống ngôn ngữ tạo hình, nơi con người gửi gắm thế giới quan, niềm tin tâm linh, khát vọng quyền lực và cảm quan thẩm mỹ của mình. Từ thời Hùng Vương đến khi kết thúc thời Nguyễn, trên các chất liệu đồ đá, đồ đồng, đồ gốm sứ, chất liệu vải thêu, đồ kim hoàn, v.v., hình tượng nghệ thuật không chỉ làm đẹp cho hiện vật mà còn kể lại câu chuyện lịch sử bằng giá trị biểu trưng.

Hình tượng rồng: Một diễn trình quyền lực

Trong toàn bộ hệ thống biểu tượng của mỹ thuật Việt Nam, rồng giữ vị trí trung tâm. Không có hình tượng nào phản ánh rõ sự chuyển biến của lịch sử, quyền lực và thẩm mỹ như rồng. Rồng Việt có cội nguồn rất sớm, liên hệ đến giao long thời Đông Sơn – linh vật thủy giới mang dáng dấp cá sấu, vốn là loài vật hiện diện phổ biến trong môi trường sông nước nhiệt đới. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa rồng Việt và rồng Trung Hoa: nguồn gốc bản địa gắn với văn minh nông nghiệp ven sông.

Đến thời Lý (1010–1225), hình tượng rồng đạt tới đỉnh cao thanh nhã. Đầu rồng có mào, sừng, ngà và bờm. Thân rồng thon gọn, uốn lượn thành nhiều khúc đều đặn nhỏ dần về phía đuôi, có nét tương đồng với loài rắn do ảnh hưởng của hình tượng rắn thần Naga trong văn hóa Champa. Rồng được đặc tả với  bốn chân móng chim; phần vảy ít được thể hiện rõ, gần như chỉ có thể thấy trên các phù điêu lớn. Rồng thời Lý thường dưới dạng Long ổ (rồng trong tư thế cuộn tròn) hoặc trong hình lá đề, nhưng đều mang đặc điểm chung là tư thế đầu ngẩng cao, biểu trưng cho khí phách Đại Việt thời kỳ độc lập và tự chủ.

Đĩa gốm hoa lam họa tiết hoa mẫu đơn (thế kỷ 15). Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan.

Sang thời Trần (1225–1400), rồng tiếp nối đặc điểm thời Lý nhưng trở nên mạnh mẽ hơn, mang nét riêng biệt của thời đại này. Sừng rồng có thêm nhiều kiểu dáng; móng rồng to bản và ngắn; thân hình mập, chắc khỏe và không còn uốn khúc đều nhau theo dạng rắn mà đa dạng hơn trong tạo hình.  Giai đoạn đầu thời Trần, rồng uốn hình lưng ngựa, phản ánh không khí huy hoàng của ba lần kháng chiến chống quân Nguyên-Mông. Một ví dụ cho rồng uốn hình lưng yên ngựa xuất hiện trên trần tháp Phổ Minh xây dựng năm 1310. Giai đoạn cuối triều Trần, rồng được thể hiện dưới dạng Long ổ nhiều hơn.

Đến thời Lê Sơ (1427–1527), rồng đổi hẳn thần thái. Đây là giai đoạn Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và mô hình quân chủ tập quyền được củng cố mạnh mẽ. Mõm rồng dài, bờm rẽ ngôi ở giữa. Chữ “Lê” (黎) trong Hán tự có bộ “Thủy” (水) nên rồng một tay nắm chặt râu (tạo hình dưới dạng mây, mà mây là hình tướng của nước), mang hàm ý nhà Lê nắm quyền lực và vận nước trong tay. Rồng thời này thường được thể hiện năm móng (ngũ trảo) xòe rộng thể hiện sự răn đe và quyền lực tối thượng của vương triều nhà Lê.

Thời Mạc (1527–1592) chứng kiến một sự dung hòa thú vị. Mạc Thái Tổ nhận mình là cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Bản thân ông xuất thân là võ quan và sùng bái di sản thời Trần nên tạo hình rồng thời Mạc lấy âm hưởng rồng của thời Trần, thể hiện ở lưng võng hình yên ngựa. Đặc điểm nhận dạng rồng thời Mạc là đầu rồng giống thời Lê Sơ, chỉ khác ở mõm ngắn lại và đao mắt, đao khuỷu chân thường là đao đơn, gấp sóng nhẹ nhàng uyển chuyển và kéo dài dọc thân rồng. Điều này phản ánh tính chất chuyển tiếp của một triều đại mới nổi lên giữa khủng hoảng chính trị. Rồng Mạc vì thế vừa kế thừa truyền thống cũ, vừa tìm kiếm dấu ấn riêng.

Nắp mặt trước giá gương để bàn sơn son thếp vàng, được điêu khắc họa tiết long thăng thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17). Ảnh: Nghiêm Giang Anh.

Thời Lê Trung Hưng (1533–1788), rồng trở nên phức tạp và mang nhiều tính thú hơn như tai dơi, mũi sư tử, mắt trố lồi ra. Đời sống chính trị thực tế lúc này hoàn toàn do họ Trịnh kiểm soát, vua Lê chỉ tồn tại trên hư danh, xã hội phân tầng và mỹ thuật dân gian nở rộ. Rồng không còn chỉ thuộc cung đình mà bước sâu vào đình làng, hương án, cửa võng, đồ thờ, nơi nghệ nhân dân gian thỏa sức sáng tạo. Đặc trưng nhận biết rồng thời Lê Trung Hưng là yếu tố mây đao đi kèm trên thân rồng. Rồng thế kỷ 17 với đao mác có đầu mũi nhọn hoặc tròn. Rồng đầu thế kỷ 18 có đao mác nhọn ở mũi, dạng đuôi nheo hoặc vát nhọn ở hai đầu mũi đao. Đến khoảng giữa thế kỷ 18, bắt đầu từ niên hiệu Cảnh Hưng từ năm 1740 của vua Lê Hiển Tông, rồng lúc này có đặc điểm đuôi xoáy tròn. Có thể đặt giả thuyết các chúa Trịnh đã tạo nên một hình tượng rồng mới để khẳng định quyền lực họ Trịnh trong mọi mặt đời sống xã hội. Hình vẽ rồng trên các món đồ sứ ký kiểu hay trên sắc phong của nhà Trịnh đều có đuôi xoáy tròn thay vì đuôi cá như trước. Hình tượng rồng đuôi xoáy tròn này về sau được nhà Nguyễn tiếp biến văn hóa và sử dụng trên các hiện vật, chất liệu trang trí trong cung đình Huế.

Thời Nguyễn (1802–1945) kế thừa con rồng thời Hậu Lê nhưng loại bỏ yếu tố đao mác, chỉ còn đao đuôi nheo. Đặc trưng rồng thời Nguyễn là phần đuôi và lông đuôi đều xoắn tròn. Con rồng thời Minh Mạng uy nghi, dữ tợn, thể hiện mạnh mẽ quyền lực tối thượng của nhà vua và vương triều. Từ cuối đời Tự Đức trở đi, xuất hiện nhiều tạo hình thân rồng mảnh hơn, vây lưng lớn và nhấp nhô không đều nhau. Hình tượng hổ phù và “Long hóa” ngày càng trở nên phổ biến trong thời Nguyễn, xuất hiện trong hình dạng rồng ngậm chữ “thọ 壽” (Long hàm thọ), rồng hóa cá, rồng hóa sen, rồng hóa cúc, rồng hóa lan, v.v.

Nhìn tổng thể, sự biến đổi của rồng qua các triều đại chính là một bản đồ tinh thần của lịch sử Việt Nam: rồng không chỉ là đề tài mỹ thuật mà còn là lịch sử chính trị được biểu đạt bằng hình ảnh.

Hình tượng mỹ thuật: Những ảnh vọng văn hiến

Không chỉ dừng lại ở sự uy nghi của hình tượng rồng, dòng chảy di sản mỹ thuật Việt Nam còn lưu dấu sự tiếp biến của nhiều hoa văn khác. Tiêu biểu có thể kể đến nhóm hình tượng linh thú với chim lạc, phượng, rùa, kỳ lân, chim thần Kinnari, chim thần Garuda, rắn thần Naga, thần Ganesha, rồng Makara, sấu đá, nghê, long mã, hổ phù, v.v.; nhóm hình tượng vũ trụ, thiên nhiên gồm mặt trời, mây, sóng nước, núi non, v.v.; nhóm hình tượng loài vật gồm sư tử, voi, hổ, rắn, cóc, trâu, ngựa, khỉ, hươu, dê, gà, uyên ương (vịt), cá chép, dơi, hạc, vẹt (chim anh vũ), v.v.; nhóm hình tượng thực vật với lá đề, hoa sen, hoa cúc, hoa mai, hoa mẫu đơn, quả lựu, quả Phật thủ, v.v.; cùng các nhóm hình tượng khác như hình tượng con người, hình tượng các vị thần và biểu tượng tín ngưỡng, minh văn Hán – Nôm, và sự kết hợp của các nhóm biểu tượng trên.

Có những hình tượng mang tính xuyên suốt, trở thành sợi dây kết nối các thời đại; nhưng cũng có hình tượng chỉ tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định, mang tâm thức của chính triều đại sản sinh ra nó. Minh chứng điển hình là biểu tượng mây và mặt trời – có mặt trong văn hóa Đông Sơn cách đây 2.500–2.000 năm và tiếp tục hiện diện cho đến tận thời Nguyễn. Một đại diện khác cho sự tiếp nối bền bỉ là mô-típ hoa chanh, xuất hiện trong hình hài những viên gạch đất nung thời Lý tại Hoàng thành cho đến diềm kim sách quý bằng vàng thời Nguyễn tại cung đình Huế.

Trống đồng Đông Sơn, hoa văn mặt trời và các dải họa tiết vũ trụ đồng tâm (500 TCN–300 SCN). Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan.

Ngược lại, hình tượng sấu đá chỉ thấy trong thời Lý-Trần-Hồ, đến thời Mạc thì bị thay thế bởi hình tượng nghê. Tương tự, long mã cũng không đi suốt chiều dài lịch sử Đại Việt mà chỉ bắt đầu định hình từ thời Lê Trung Hưng và đạt độ cực thịnh vào thời Nguyễn. Hình tượng uyên ương xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn và trở nên phổ biến trên ngói úp nóc trang trí kiến trúc từ thời Đinh đến cuối thời Trần. Sang thời Lê Sơ, hình tượng này thoái lui khỏi đời sống mỹ thuật, nhường chỗ cho những chuẩn mực biểu tượng mới.

Có hình tượng gắn liền với sự yêu ghét hay tôn sùng đến từ niềm tin tôn giáo và nghi thức triều đình. Khi phong kiến đạt đỉnh cao vào thế kỷ 15, loài rắn trong con mắt Nho gia là con vật tượng trưng cho cái ác. Người ta gán sự tích “con rắn báo oán” với án “tru di tam tộc” dòng họ Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi Viên. Ở một góc nhìn khác, rắn lại là linh vật trong Đạo Mẫu, được gọi là Ông Lốt, với “Thanh xà” (rắn xanh) và “Bạch xà” (rắn trắng) được coi là biểu tượng hộ giá cho đạo pháp. Tương tự, trong văn hóa Champa, rắn thần Naga luôn trong tư thế vươn mình che chở cho Đức Phật, hàm ý con vật dù hung dữ, ác tính nhưng quy hồi Phật pháp lại trở thành loài vật thiêng.

Bình gốm hoa lam phủ men trắng hình chim phượng (thế kỷ 15–16). Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan.

Thông qua các hình tượng mỹ thuật Việt cổ, có thể khẳng định Việt Nam không phải một không gian văn hóa khép kín, mà là nơi gặp gỡ của nhiều luồng ảnh hưởng lớn: Hán học từ phương Bắc, Ấn Độ giáo và Phật giáo từ phương Nam, và di sản Champa tại miền Trung. Mỹ thuật Việt Nam vì thế hình thành trong quá trình tiếp biến liên tục nhưng vẫn giữ căn tính, bản sắc riêng.

Trong bối cảnh đương đại, khi nhiều không gian sống bị đồng nhất bởi mô-típ vay mượn toàn cầu, việc trở về với kho biểu tượng Việt Nam không chỉ là hoài cổ, mà còn là con đường xây dựng thẩm mỹ bản địa cho tương lai. Và ở phương diện đó, việc nhìn lại hình tượng mỹ thuật Việt cổ chính là đọc lại trí tưởng tượng truyền đời của người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi cổ vật giờ đây không chỉ đơn thuần là một món đồ, mà là một văn bản thị giác nhiều lớp nghĩa cho chính người Việt chúng ta trong kỷ nguyên mới. Khi thấm nhuần điều này, người sưu tầm cổ ngoạn có thể đọc niên đại qua phong cách; kiến trúc sư tìm thấy nguồn cảm hứng tạo hình; nhà thiết kế nội thất tái diễn giải tinh tế hoa văn cổ; và người yêu di sản hiểu thêm căn tính văn hóa dân tộc.

Thực hiện: Nghiêm Giang Anh
Biên dịch: Art Nation

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Địa – mỹ học của sự ly hương: Góc nhìn xoay quanh triển lãm “Khi mặt đất neo giữ”

Giải mã góc nhìn địa - mỹ học trong hành trình ly hương của các nghệ sỹ Nhật Bản và Việt Nam qua triển lãm "Khi mặt đất neo giữ" tại Villepin Hồng Kông.

Trên nếp nghê thường

Khám phá lịch sử và kỹ nghệ xa xỉ của chiếc "thường" - biểu trưng quyền lực của hậu phi triều Nguyễn.

Tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời

Khám phá hành trình sáng tạo bền bỉ của 12 cây đại thụ mỹ thuật miền Nam sau 1975 tại Chillala – House of Art.

Ấn phẩm