Chị từng theo học ngành Thơ ca và Văn học. Chị còn sáng tác thơ không?
Không hẳn, ít nhất không theo cách tôi từng viết khi còn học đại học. Thơ vẫn len lỏi vào những gì tôi viết, nhưng gần như một cách vô thức. Tôi không còn xem mình là một nhà thơ nữa.
Ngay cả với “Thắm Lại”, khoảnh khắc bài thơ của tôi xuất hiện chỉ thực sự hiệu quả trong khuôn khổ của văn bản triển lãm. Hình thức thơ ca cho tôi không gian đối thoại, đồng thời cho phép những điều riêng tư được bộc lộ một cách chân thành thay vì nuông chiều cái tôi của người viết. Văn bản giám tuyển thường có xu hướng ẩn sau ngôn ngữ học thuật, nên khi điều gì đó cá nhân xuất hiện, nó tạo ra một hiệu ứng khác.
Dù vậy, tôi luôn ý thức về ranh giới ấy. Nếu bài thơ mà tôi viết được tách ra khỏi ngữ cảnh, có lẽ chính tôi cũng sẽ thấy nó hơi sến.
Tôi khao khát, nên tôi tồn tại.
Không có khao khát, sẽ không có chuyển động, không có lý do để tạo ra bất cứ điều gì,
không có sức sống vận hành một đời sống.
Khao khát không phải là dấu hiệu của thiếu hụt, mà là một động lực.
Muốn là chuyển động, và chuyển động là tích tụ.
“Có phải duyên nhau thời thắm lại”
Sắc đỏ ấy vẫn đang đậm dần.¹

Có vẻ chị ý thức rất rõ về ranh giới giữa sự sến và sự nghiêm túc.
Tôi không nghĩ nghiêm túc và sến là hai thái cực đối lập. Một thứ hoàn toàn có thể vừa sến, vừa nghiêm túc cùng lúc. Nhiều điều thực sự chạm đến tôi đều có chút gì đó “sến”: hơi quá mức, không phòng bị và hoàn toàn chân thành. Chính sự chân thành khiến chúng trở nên nghiêm túc.
Nhưng trong thực hành của mình, đó vẫn là một ranh giới tôi luôn phải thương lượng. Nhiều dự án giám tuyển của tôi xoay quanh những chủ đề bị xem nhẹ hoặc bị gạt ra bên lề. Đó có thể là kitsch (sến), nghệ thuật Việt Nam hay những hình thức văn hóa nằm ngoài các khuôn khổ của phương Tây.
Với nhiều người Việt, “Mời ăn trầu” gần như là một bài thơ nhập môn. Ban đầu, tôi nghĩ sự quan tâm của bạn đến bài thơ này có thể đến từ một cách đọc văn hóa Việt Nam từ khoảng cách của một Việt kiều.
Tôi nghĩ cách nhìn đó hơi giản lược. Trải nghiệm của người Việt trong nước và người Việt ở hải ngoại quá đa dạng để một “cách đọc từ xa” trở thành điểm khởi đầu duy nhất. Tuy vậy, tôi cũng đoán trước rằng nhiều người sẽ đánh giá thấp lựa chọn này.
Đây là một bài thơ quen thuộc với rất nhiều người, nhưng bên trong nó là cả một dòng chảy phức tạp về kể chuyện, giới và khao khát. Bên cạnh đó còn có sự căng thẳng giữa nguyên tác tiếng Việt và các bản dịch tiếng Anh, trong đó một số bản dịch đã làm thay đổi đáng kể ý nghĩa của bài thơ.
Đối với nhiều người Việt ở hải ngoại, những bản dịch đó cũng chính là lần đầu tiên chúng tôi tiếp cận Hồ Xuân Hương và thơ ca Việt Nam nói chung. Sự khác biệt ấy khiến tôi bị thu hút. Hai phiên bản của cùng một bài thơ nhưng lại không hoàn toàn nói cùng một điều. Có thể đó là hai dạng khao khát khác nhau. Hoặc cũng có thể nó phản ánh sự bất khả của việc truyền tải một số điều sang một ngôn ngữ khác.
Tôi cũng cảm thấy đồng cảm với Hồ Xuân Hương. Tác phẩm của bà liên tục bị hiểu sai, bị viết lại hoặc bị gán cho người khác. Có một lịch sử rất dài về việc tiếng nói của phụ nữ được kể thông qua ngôn ngữ của người khác.
Offering betel
A piece of nut and a bit of leaf
Here, Xuân Hương has smeared it
If love is fated, you’ll chew it red
Lime won’t stay white, nor leaf, green.²
Hãy nói thêm về “duyên”. Cách chị kết nối duyên với khao khát dường như gắn chặt với cảm thức thời gian, như một điều gì đó dần lật mở theo năm tháng. Chị nghĩ về thời gian như thế nào khi nói đến duyên?
Tôi nghĩ về khao khát như một dạng chuyển động. Nếu không mong muốn điều gì đó, ta sẽ không bước về phía nó. Khao khát trở thành một động lực. Và trong tiếng Việt, khao khát và duyên thật ra rất khó tách rời. Khao khát tồn tại bởi vì mối kết nối ấy đã được định sẵn từ trước.
Có một câu trong bài thơ: “Có phải duyên nhau thời thắm lại”, thường được dịch thành “If love is fated, you’ll chew it red.” Một điều gì đó đã dịch chuyển trong quá trình chuyển ngữ ấy. Từ “duyên” không có một từ tương đương trong tiếng Anh. Nó gợi đến định mệnh, đến một mối liên kết đã được an bài và kéo dài, đến tính tất yếu của một số gắn bó nhất định.
Bản dịch tiếng Anh nghiêng về hành động: nhai trầu cho đến khi răng nhuộm đỏ, khi cảm xúc trở nên hữu hình, như những lao động của tình yêu. Nhưng tiếng Việt lại dừng ở chính mối ràng buộc ấy, ở “thắm lại” – sắc đỏ thêm lần nữa, vết nhuộm đậm dần lên qua lặp lại.
Sự lặp lại đó rất quan trọng. Duyên không vận hành theo dòng thời gian của bạn, mà theo dòng thời gian của chính nó. Khao khát trong tư duy phương Tây đôi khi mang cảm giác vô tận, giống như một dạng lao động không có hồi kết, bởi toàn bộ gánh nặng của kết quả được đặt lên người đang khao khát. Duyên phân bổ lại gánh nặng ấy. Nó mang theo niềm tin rằng điều gì thuộc về mình rồi sẽ đến, rằng bản thân thời gian cũng đang hướng về một điều gì đó.
Nếu bạn hữu duyên với ai đó, bạn sẽ gặp lại họ. Có thể không phải bây giờ. Nhưng mối liên kết ấy tồn tại xuyên qua thời gian thay vì bị thời gian bào mòn. Trong đó có một sự dễ chịu, một cảm giác tin tưởng rằng có những điều nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình. Với tôi, chính duyên là thứ khiến những điều chưa được giải quyết trở nên có thể chịu đựng. Nó không chấm dứt khao khát; nó cho bạn một lý do để tiếp tục ở lại với nó.

Dù vậy, đằng sau cảm giác dễ chịu ấy, tôi vẫn cảm nhận được một dòng chảy của sự bất an xuyên suốt triển lãm. Chẳng hạn như “Lân Sư Hồ” của Tường Danh dường như xuất hiện từ một vết đứt gãy trong hệ thống thần thoại truyền thống.
Chắc chắn rồi. Sự bất an là điều cần thiết cho chuyển hóa. Có thể duyên đưa ra một khung tham chiếu rộng hơn, nhưng chính sự bất an mới là thứ thực sự đẩy con người về phía trước.
Tường Danh đang tạo ra những huyền thoại mới bởi cô không hoàn toàn nhìn thấy chính mình trong những huyền thoại sẵn có. Thực hành của cô xuất phát từ sự căng thẳng đó, từ vết đứt gãy bên trong thần thoại truyền thống thay vì một sự tiếp nối liền mạch.
Với Vân-Nhi, sự bất an nằm ở tính vô thường và nỗi sợ đánh mất những mối thân mật nhất định, cảm giác rằng mọi thứ đang trôi khỏi tầm tay trước khi kịp giữ lại. Tác phẩm của Anh-Phuong hiện diện cùng những khao khát và lao động của phụ nữ Việt Nam trong nền kinh tế dịch vụ, cùng sức nặng kỳ vọng và những điều bị kìm nén. Còn Như Xuân Hứa đang tái dựng những mảnh rời của lịch sử gia đình, làm việc với những gì còn sót lại khi ký ức không còn nguyên vẹn.
Sẽ không có tác phẩm nào trong số đó tồn tại nếu thiếu đi sự bất an. Khao khát và bất an luôn gắn liền với nhau. Khao khát sản sinh từ những điều còn dang dở.

Phải chăng theo một cách nào đó, triển lãm đang kiến tạo một hình dung mới về tính nữ?
Ở một mức độ nào đó thì đúng, nhưng tôi nghĩ về điều đó như một sự mở rộng hơn là một sự kiến tạo. Tính nữ trong triển lãm này không được xây dựng từ hư vô. Nó đã luôn bén rễ trong lịch sử và văn hóa. Điều tôi hy vọng người xem cảm nhận được là chính sự bén rễ ấy, đồng thời nhận ra khả năng tái hình dung. Hai điều đó không đối lập với nhau.
Đó cũng là lý do tôi chủ ý không đặt khao khát lãng mạn vào vị trí trung tâm của triển lãm. Tôi muốn khao khát xuất hiện trong mọi khía cạnh của đời sống: lịch sử, lao động, di cư, sự thân mật, thần thoại. Chính sự rộng mở đó mới phản ánh đời sống của phụ nữ Việt Nam. Nó vừa mang theo sức nặng của lịch sử và văn hóa, vừa không ngừng tìm kiếm những cách tồn tại mới ở bên trong và vượt ra ngoài những cấu trúc ấy.

Tựa đề “Thắm Lại” gợi đến việc trở nên đỏ thêm lần nữa. Có sắc đỏ của miếng trầu trong thơ Hồ Xuân Hương, và ngay cả tên của chị. Màu sắc có từng là một cân nhắc giám tuyển trong triển lãm này không?
Ban đầu tôi từng nghĩ đến việc đưa nhiều yếu tố màu đỏ vào triển lãm vì hình ảnh miếng trầu. Nhưng rồi tôi nhận ra điều đó sẽ kéo mọi thứ trở lại với những biểu tượng của tình yêu lãng mạn, trong khi tôi lại đang muốn đi xa khỏi hướng đọc đó.
Triển lãm vẫn có một sự gắn kết nhất định về mặt thị giác, nhưng nó đến từ nơi khác. Đây đều là những nghệ sỹ trẻ đang làm việc trong cùng một cộng đồng hoặc những cộng đồng rất gần nhau ở Việt Nam hiện nay. Mỗi nghệ sỹ được trao một không gian riêng, tạo điều kiện để tính cá nhân của họ được hiện diện rõ ràng. Nhưng những kết nối sâu hơn giữa các tác phẩm nằm ở tầng ý niệm chứ không phải ở bề mặt thẩm mỹ.

Vậy triển lãm đã hình thành như thế nào?
Tôi đã mang theo những ý niệm này trong nhiều năm. Tôi đọc bài thơ từ rất lâu trước đây, và phần lớn những điều triển lãm khai thác cũng là những câu hỏi tôi luôn mang theo trong đời sống cá nhân. Chỉ đến khi bắt đầu lên kế hoạch cho triển lãm, mọi thứ mới dần kết nối với nhau. Điều đó cũng rất “duyên” theo một cách nào đó.
Bốn nghệ sỹ đều đã quen biết và là bạn của nhau từ trước. Khi tôi mời họ tham gia triển lãm, mọi người đều đồng ý ngay vì thực sự muốn trưng bày cùng nhau. Điều đó rất quan trọng với tôi. Tôi muốn triển lãm phản ánh một cảm giác cộng đồng được hình thành từ sự chăm sóc lẫn nhau hơn là từ cạnh tranh. Đôi khi triển lãm hình thành theo một dòng thời gian mà trước đó bạn không nhìn thấy. Ý tưởng cần thời gian để phát triển. Các mối quan hệ cũng vậy. Và rồi đến một lúc nào đó, những điều kiện phù hợp xuất hiện.

Tổ chức triển lãm cũng là một dạng lao động cường độ cao. Chị nghĩ như thế nào về lao động trong quá trình làm triển lãm và trong thế giới nghệ thuật nói chung?
Lao động trong thế giới nghệ thuật bị đánh giá thấp một cách nghiêm trọng, đặc biệt là những dạng lao động vô hình. Đó là lý do tôi rất quan tâm đến việc ghi nhận đầy đủ credit và lời cảm ơn trong triển lãm. Mọi người thường hình dung công việc giám tuyển là một dạng lao động ý niệm thuần túy. Nhưng trên thực tế, phần lớn công việc lại mang tính hành chính, hậu cần, cảm xúc và chuyển ngữ. Triển lãm là kết quả của một quá trình cộng tác tập thể: đội ngũ lắp đặt, người chế tác, dịch giả, trợ lý phòng tranh, người làm hành chính, nghệ sỹ, nghệ nhân. Có quá nhiều dạng lao động bị che khuất phía sau một cái tên giám tuyển duy nhất, đặc biệt là lao động của phụ nữ – những công việc thường không được nhìn thấy và không được ghi nhận xứng đáng.

Những điều chị nói về các mối thân tình giữa các nghệ sỹ khiến tôi nhớ đến bối cảnh nghệ thuật Việt Nam thập niên 1990, khi phần lớn hoạt động được duy trì nhờ tình bạn và các mạng lưới cá nhân. Tuy nhiên, một số người trẻ hiện nay lại phản biện mô hình đó vì cho rằng nó cũng có thể tạo ra sự phân biệt.
Tôi nghĩ cả hai điều đó đều đúng. Tình bạn có thể rất đẹp, nhưng nó cũng có thể thiếu tính phản biện. Dù vậy, tôi cho rằng sự căng thẳng này tồn tại ở mọi bối cảnh nghệ thuật chứ không riêng gì Việt Nam. Việc các mạng lưới phi chính thức tạo ra sự phân biệt hoàn toàn không phải điều đặc thù của nơi đây. Thậm chí, tôi nghĩ chúng ta nên cẩn trọng khi chỉ áp dụng phê bình đó cho những bối cảnh ngoài phương Tây, trong khi nó hiện diện rõ ràng không kém ở New York hay London. Đồng thời, tôi cũng không nghĩ mình đã sống ở Việt Nam đủ lâu để đưa ra một nhận định mang tính kết luận về bối cảnh nghệ thuật tại đây. Chính tôi vẫn đang học cách trở thành một phần của nó.

Chị sắp trở lại Hoa Kỳ. Điều gì ở Việt Nam mà chị sẽ nhớ nhất?
Có lẽ là cảm giác hy vọng. Ở New York, đôi khi mọi thứ mang lại cảm giác như đã xảy ra hết rồi. Bạn liên tục phải tái diễn giải những cuộc đối thoại vốn đã tồn tại từ trước. Trong khi đó, ở Việt Nam, nhiều thứ vẫn còn rất rộng mở. Vẫn còn nhiều không gian cho thử nghiệm bởi quá nhiều điều vẫn chưa được định hình hoàn toàn.
Và thành thật mà nói, tôi sẽ nhớ cảm giác được ở giữa những người Việt Nam. Nhưng tôi cũng không nghĩ về việc này như một sự rời đi vĩnh viễn. Thực hành của tôi từ lâu đã tồn tại giữa Việt Nam và New York, và tôi nghĩ điều đó sẽ tiếp tục. Ngày càng có nhiều nghệ sỹ và người làm văn hóa trẻ của Việt Nam đang xây dựng cuộc sống giữa nhiều nơi khác nhau. Đây là một trào lưu đang được nhân rộng. Nó mở rộng những gì nghệ thuật Việt Nam có thể trở thành, và mở rộng cả những đối tượng mà nghệ thuật ấy có thể đối thoại cùng.
Chân thành cảm ơn Hà Anh Đào đã dành thời gian cho cuộc trò chuyện này.
Thực hiện: Nguyễn Hoàng Gia Bảo
[1] Trích từ văn bản giám tuyển “Thắm Lại” (2026), do Hà Anh Đào biên soạn cho triển lãm “Thắm Lại” tại Galerie Quynh.
[2] John Balaban (dịch), “Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương” (Port Townsend, Washington: Copper Canyon Press, 2000). Trong phiên bản tiếng Việt của bài phỏng vấn, chúng tôi giữ lại bản dịch tiếng Anh của “Mời ăn trầu” nhằm duy trì sự căng thẳng giữa nguyên tác và bản dịch, một điểm then chốt trong cách Hà Anh Đào đọc bài thơ và khái niệm “duyên”.


