
Trong những năm qua, anh đã đóng nhiều vai trò khác nhau, từ nghệ sỹ, giám tuyển, chủ phòng trưng bày, đến nhà cố vấn, nhà phê bình hay quản lý studio, v.v., cả ở Việt Nam và nước ngoài. Từ kinh nghiệm của mình, anh định nghĩa “bảo trợ nghệ thuật” như thế nào trong những bối cảnh khác nhau này?
Trong giới nghệ thuật, sự bảo trợ thường được hình dung như một dòng chảy đơn tuyến từ giới giàu có sang nghệ sỹ, và đổi lại, văn hoá được “sản xuất”. Cách đóng khung này làm đẹp lòng các nhà sưu tập và tổ chức, trong khi che khuất đi một nền kinh tế phức tạp hơn đang vận hành. Trên thực tế, nghệ sỹ không chỉ đơn thuần nhận sự hỗ trợ – bản thân họ là người tạo ra nó qua những hoạt động trợ cấp cho các tổ chức, đảm bảo cơ sở hạ tầng văn hóa, và đóng góp các nguồn vốn kinh tế-xã hội và trí tuệ hiếm khi được công nhận đúng mực.
Một điều cũng thường thấy chính là việc các nghệ sỹ trực tiếp bảo trợ lẫn nhau. Họ chia sẻ xưởng sáng tác và thiết bị, hướng dẫn nghệ sỹ mà không nhận thù lao, tổ chức triển lãm, xuất bản catalogue, và tự mình góp vốn cho các dự án nhỏ. Những hành động này hiếm khi được ghi nhận trong các tự sự chính thống về sự bảo trợ, nhưng có thể khẳng định rằng chúng nuôi dưỡng cộng đồng nghệ thuật bền vững hơn nhiều so với những hình thức tài trợ không đồng đều hay rập khuôn sách vở. Về bản chất, các nghệ sỹ hoạt động như những thiết chế vi mô. Họ luân chuyển nguồn lực theo chiều ngang thay vì chiều dọc. Họ đầu tư vào những hợp đồng tương lai vốn không có sự đảm bảo về lợi nhuận. Hình thức bảo trợ này mang tính liên đới, bám rễ sâu sắc, và thường vô hình nhưng không kém phần quan trọng.

Đặc biệt, nền nghệ thuật tiên phong thường được “bao thầu” bởi chính người trong cuộc, đôi khi do tình thế bắt buộc hơn là bởi ý thức hệ. Nhiều nền tảng quan trọng nhất hiện nay vẫn tiếp tục dựa vào sự bảo trợ của nghệ sỹ. Các chương trình lưu trú gây quỹ thông qua những tác phẩm được quyên tặng; các nhà xuất bản phi lợi nhuận phụ thuộc vào các ấn bản của nghệ sỹ; các kỳ triển lãm lưỡng niên hay liên hoan nghệ thuật thường xuyên yêu cầu nghệ sỹ chấp nhận mức phí tối thiểu để đổi lấy cơ hội quảng bá – về cơ bản là chuyển đổi lao động nghệ thuật thành uy tín cho tổ chức. Đây không phải là từ thiện, mà là sự trợ cấp mang tính cấu trúc.
Tại Việt Nam, sự nổi lên của nghệ thuật đương đại là một minh chứng đặc biệt rõ nét cho hình thức bảo trợ do nghệ sỹ dẫn dắt, vận hành trong bối cảnh thiếu vắng một thị trường tiềm năng hay những hỗ trợ từ phía thể chế. Nhóm Gang of Five, hoạt động tại Hà Nội từ cuối thập niên 1980 đến thập niên 1990, hình thành vào thời điểm các nghệ sỹ không thể dựa vào các nhà sưu tập, phòng trưng bày độc lập hay các hệ thống bảo trợ chính thống. Để hỗ trợ lẫn nhau, các nghệ sỹ đã tổ chức triển lãm tại các không gian phi truyền thống, chia sẻ cơ hội nội bộ và tạo ra sự hiện diện tập thể cho phép các thành viên dám mạo hiểm với những rủi ro mà họ có thể không làm được nếu hoạt động riêng lẻ. Về bản chất, họ đóng vai trò là người bảo trợ cho nhau, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc thể nghiệm và tính liên tục từ rất lâu trước khi một thị trường nghệ thuật đương đại thành hình.
So với mô hình bảo trợ theo định hướng thị trường, mô hình bảo trợ “ngang hàng” này đã và đang nuôi dưỡng giá trị nghệ thuật và kích thích sự phát triển của nghệ thuật khác biệt như thế nào?
Vai trò bảo trợ của người nghệ sỹ trở nên rõ nét nhất vào những thời khắc định chế bấp bênh, khi các nguồn tài trợ sụp đổ, các tổ chức phi lợi nhuận phải phụ thuộc vào những buổi gây quỹ thường niên, và khi các không gian văn hóa chỉ có thể duy trì bằng những nguồn thu lay lắt. Việc quyên tặng tác phẩm đấu giá, các ấn phẩm gây quỹ, những buổi biểu diễn và các sáng tác độc bản thường xuyên trở thành nguồn duy trì hoạt động cho các tổ chức này. Quyết định quyên tặng một tác phẩm không thể hiện sự dư dả, mà là lựa chọn từ bỏ một nguồn thu nhập tương lai, thường được hợp thức hóa bằng lời hứa trên danh nghĩa về “độ phủ sóng”. Tuy nhiên công sức, vật liệu, và rủi ro tài chính dài hạn mà các nghệ sỹ phải gánh chịu hiếm khi được ghi nhận. Sự vô hình này đã trở thành một điều hiển nhiên.
Xét trên mọi phương diện lý tính, nghệ sỹ là một trong những nhà bảo trợ nghệ thuật kiên định nhất nhưng lại ít được công nhận nhất. Đây không phải thực trạng mới. Trong lịch sử, nghệ sỹ từ lâu đã hỗ trợ lẫn nhau cũng như các định chế cần thiết cho sự tồn tại của họ. Các không gian do nghệ sỹ điều hành – từ các nhóm thực hành thời hậu chiến đến các không gian nghệ thuật phi truyền thống trong thập niên 1970-80 – được duy trì thông qua việc chia sẻ chi phí mặt bằng, lao động tình nguyện và các triển lãm không thù lao. Đây không phải là những hoạt động bên lề. Chúng đã định hình toàn bộ và xuyên suốt nhiều trào lưu và diễn ngôn nghệ thuật.
Tại Việt Nam, tinh thần tương trợ này dần trở nên rõ nét về mặt cấu trúc hơn với sự ra đời của Nhà Sàn Collective trong thập niên 1990. Sự tồn tại ban đầu của không gian này gần như hoàn toàn phụ thuộc vào việc các nghệ sỹ tự gánh vác rủi ro về mặt tài chính và hậu cần, đóng góp lao động, đón tiếp nghệ sỹ lưu trú, duy trì không gian, và giữ vững các chương trình trong tình trạng thiếu vắng nguồn tài trợ ổn định từ bên ngoài. Những phát triển tương tự cũng diễn ra ở miền Nam với sự xuất hiện của Sàn Art và các dự án sau này như Nổ Cái Bùm. Nhìn chung, những sáng kiến này cho thấy một dạng thức thường trực trong nghệ thuật đương đại Việt Nam: các nghệ sỹ liên tục đảm nhận vai trò nhà bảo trợ, nhà tổ chức, và thiết chế, tạo ra chính những điều kiện cho phép tác phẩm của họ và đồng nghiệp có thể tồn tại.

Vậy, vị trí của nhà sưu tập ngày nay nằm ở đâu trong hệ thống bảo trợ do nghệ sỹ dẫn dắt? Vai trò của họ có còn quan trọng không?
Các nhà sưu tập – dù không phải lỗi của họ – thường hiểu sai vai trò của mình. Việc mua tác phẩm nghệ thuật thường được gắn mác “nhân văn”, là hỗ trợ nghệ sỹ, trong khi đó, đây đúng hơn hết là sự trao đổi giá trị. Nhà sưu tập sở hữu những vật phẩm định hình trải nghiệm sống hàng ngày, trao vốn văn hóa, và đôi khi gia tăng giá trị tài chính. Nghệ thuật tạo ra ảnh hưởng tích lũy lâu dài đến cách con người sống và suy nghĩ. Hiếm thương vụ nào mang lại lợi nhuận bền vững đến thế.
Tại Ý thời Phục Hưng, gia tộc Medici – một dòng dõi tài phiệt ngân hàng ở Florence sau này sản sinh ra các đời giáo hoàng, lãnh đạo chính trị và những người cai trị thực quyền của thành phố – hiểu rằng sự bảo trợ là một cuộc trao đổi hơn là sự hào phóng. Sự hỗ trợ của họ dành cho các nghệ sỹ như Michelangelo, Leonardo da Vinci, Botticelli và Donatello đã giúp định hình bản sắc văn hóa của Florence và, rộng hơn, cả di sản của chính gia tộc họ. Nghệ thuật đã khuếch đại tầm ảnh hưởng, củng cố danh tiếng và cài cắm quyền lực vào đời sống dân sự. Đổi lại, những điều gia tộc Medici nhận được bền vững hơn nhiều so với vật chất: sự hiện diện, tính chính danh, và sự tiếp nối lịch sử. Sự bảo trợ vận động như một mối quan hệ tương hỗ, nơi giá trị văn hóa chảy theo cả hai chiều – cũng giống như ngày nay.
Cá nhân anh bắt đầu bước vào vai trò nghệ sỹ kiêm nhà bảo trợ như thế nào?
Đến đầu những năm 2000, mỗi năm tôi đều quyên tặng một số tác phẩm cho các tổ chức phi lợi nhuận, các đơn vị, chương trình lưu trú dành cho nghệ sỹ và các hoạt động từ thiện – hầu hết tại New York – bao gồm SculptureCenter, Artists Space, Momenta Art, Residency Unlimited, Quỹ Nghiên cứu Y học Dystonia và Học viện Âm nhạc Brooklyn. Thông qua các buổi đấu giá từ thiện, xổ số và các sự kiện gây quỹ, nếu ước tính hợp lý, các tác phẩm của tôi đã thu về hơn 45.000 USD.

Từ năm 2003 đến năm 2007, tôi điều hành hai không gian trưng bày tại New York, đầu tiên là tại một căn hộ studio bỏ trống và sau đó là tại một cửa hàng ở Brooklyn, nơi đồng thời cũng là nhà tôi. Với ngân quỹ không ràng buộc, phòng trưng bày ở Brooklyn của tôi, mang tên New General Catalog 224, đã hỗ trợ những nghệ sỹ chưa được nhận diện đúng mực, và khuyến khích thể nghiệm thông qua các triển lãm, chương trình lưu trú, trình diễn và các sáng kiến giám tuyển rời xa quỹ đạo truyền thống. Không gian này hoạt động không phải như một doanh nghiệp thương mại mà như một vườn ươm văn hóa, được duy trì bằng cam kết nghệ thuật hơn là lợi nhuận.

Năm 2025, trong bốn tháng lưu trú tại Sài Gòn, tôi trao đổi tác phẩm với những người bạn là nhà sưu tập để đổi lấy chỗ ở. Dù không tự tạo ra một chương trình lưu trú cho riêng mình, nhưng trải nghiệm này đã đặt ra một câu hỏi đơn giản: liệu những hình thức trao đổi bảo trợ song phương như vậy có thể được mở rộng quy mô để hỗ trợ thường xuyên cho nghệ sỹ trên phạm vi quốc tế, đặc biệt là trong các giai đoạn nghiên cứu hoặc công tác? Mô hình này không hề làm suy yếu hệ thống phòng trưng bày, mà bổ sung cho hệ thống đó, đem đến một cấu trúc song song hỗ trợ lẫn nhau có khả năng kháng lại trật tự khai thác thuần túy tập trung vào doanh thu hay địa vị.
Theo anh, vai trò của nghệ sỹ-nhà bảo trợ trong tương lai của bảo trợ nghệ thuật sẽ như thế nào?
Việc điều chỉnh lại ngộ nhận về bảo trợ nghệ thuật rất quan trọng bởi góc nhìn này đang làm méo mó quyền lực. Giá thị trường của một tác phẩm nghệ thuật hiếm khi phản ánh trọn vẹn đóng góp của nghệ sỹ cho lĩnh vực văn hóa. Khi các nhà sưu tập vẫn còn được đặt vào vị thế người ban ơn và nghệ sỹ là kẻ phụ thuộc, thì thực trạng việc ai là người gánh chịu rủi ro và ai kiến tạo giá trị vẫn còn bị che khuất. Việc tái định hình sự bảo trợ để trao quyền cho nghệ sỹ không làm giảm vai trò của các nhà sưu tập, mà trái lại càng làm rõ thêm vai trò đó. Các nhà sưu tập hoạt động trong một hệ sinh thái vốn đã được trợ cấp bởi chính các nghệ sỹ – công nhận điều này sẽ thúc đẩy các tổ chức xem xét lại về chế độ đãi ngộ, khuyến khích các nhà sưu tập nhìn nhận lại tâm thế đặc quyền, và các nghệ sỹ lấy lại quyền tự quyết đối với sự hào phóng xưa nay của họ.
Về cá nhân mình, tôi vẫn luôn không ngừng tìm kiếm những mô hình bền vững tốt hơn cho hệ sinh thái nghệ thuật, đặc biệt là từ lăng kính của một nghệ sỹ. Tôi thường mơ về một cuộc sống không bị ràng buộc bởi thị trường thương mại, ngay cả khi sinh kế của tôi vẫn gắn chặt vào đó. Lý tưởng lãng mạn này không xuất phát từ thái độ bài trừ chính thị trường, cũng không phải từ những hình ảnh chế giễu nó, mà từ niềm tin rằng những hệ thống trao đổi và tương trợ khác, có kết nối chặt chẽ hơn, là khả thi, nếu không muốn nói là đã và đang hoạt động song song với thị trường – một cách vô hình, như thường thấy.
Thực hiện: Trọng Gia Nguyễn & Alna Bay


