Khi ánh sáng xuyên qua lớp kính được tạo tác bằng kỹ thuật men chồng lớp, bức tranh kính “Trường học Athens” tại Trại Da Vinci, Bảo tàng Nghệ thuật Kính màu như bừng tỉnh. Các triết gia cổ đại hiện lên giữa những thang độ chuyển sắc tinh tế, tái hiện sức sống rực rỡ của một kiệt tác Phục hưng, trong khi bản gốc tại Điện Tông Tòa đang dần phai nhạt theo năm tháng.

Đây là phiên bản tranh kính độc nhất vô nhị trên thế giới, chuyển thể từ bức bích họa Raphael khởi sự năm 1509, được đặt đối diện “Bí tích thánh thể” như một hòa phẩm, hợp thành cặp biểu tượng giữa đức tin và lý trí. Khởi xướng bởi nhà ngoại giao, nhà sưu tầm và người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Xuân Thắng, ý tưởng này là một sáng tạo chưa từng có tiền lệ, xuất phát từ mong muốn đưa di sản thế giới về Việt Nam qua chất liệu kính màu.
Như một sự tán dương trí tuệ nhân loại, “Trường học Athens” quy tụ hơn năm mươi nhân vật Hy-La kiệt xuất như Plato, Aristotle, Pythagoras, Euclid, Socrates, Heraclitus hay Ptolemy. Raphael khéo léo “mượn” khuôn mặt các danh nhân thời Phục hưng để gửi gắm vào hình tượng cổ đại – Leonardo da Vinci trong dáng Plato, Michelangelo hóa thân thành Heraclitus và chính danh hoạ tự họa mình vào viền phải bố cục. Toàn cảnh mở ra trong một không gian kiến trúc tráng lệ, dưới mái vòm cao cùng hệ cột đồ sộ. Thay vì sắp đặt các nhân vật theo lối diễu hành quen thuộc của tranh thánh, Raphael đặt họ vào một trường đối thoại miên viễn, nơi tư tưởng va chạm, tiếp diễn không ngừng.

Ông Nguyễn Xuân Thắng từ lâu đã dành sự ngưỡng mộ đặc biệt cho “Trường học Athens” và nuôi khát vọng đưa tác phẩm này vào không gian bảo tàng tư nhân. Ông ý thức rất rõ độ khó của dự án, thậm chí gọi đây là “sự liều lĩnh, nếu không muốn nói là dại dột,” bởi kỹ thuật tạo tác tranh kính hoàn toàn khác với lối vẽ sơn dầu truyền thống. Chính ông cũng là người trực tiếp bố cục lại tác phẩm bằng công cụ vi tính, thu hẹp kích thước xuống 600 x 320 cm so với bản gốc 770 x 500 cm tại Toà thánh Vatican, điều chỉnh các chi tiết ở phần trên dồn xuống dưới để thích ứng với mặt phẳng trưng bày, đồng thời giữ nguyên hệ nhân vật và tinh thần căn cốt.
Xuất phát từ tiêu chí then chốt là bảo tồn chất hội họa Phục hưng, ông Nguyễn Xuân Thắng lựa chọn họa sỹ Hồ Vương, người quy tụ một nhóm họa sỹ trẻ nhưng dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực phục chế tranh kính tại các nhà thờ xây dựng từ thời Pháp thuộc, đặt trọn niềm tin vào tay nghề Việt Nam để thực hiện dự án được đánh giá là khó gấp hai đến ba lần tranh kính cổ điển. Kết quả là bức “Trường học Athens” bằng tranh kính đầu tiên trên thế giới, một tác phẩm độc bản, vượt qua những rủi ro kỹ thuật và chi phí khổng lồ để hiện hữu như một thử nghiệm táo bạo, chưa từng có tiền lệ.

Quá trình chuyển thể từ chất liệu bích họa sang kính màu là thử thách lớn nhất, đòi hỏi sự kiên trì và độ chính xác gần như tuyệt đối từ khâu thiết kế đến chế tác. Bản gốc của Raphael sử dụng kỹ thuật sơn dầu với các lớp màu vờn tinh tế, đúng tinh thần hội họa Phục hưng. Ngược lại, tranh kính cổ điển vận dụng phong cách grisaille, tức sử dụng lớp men đen vẽ trên nền kính đơn sắc, qua đó nhấn mạnh hình dáng cùng chiều sâu, giúp hình ảnh tương phản mạnh mẽ khi ánh sáng xuyên qua¹.
Với phiên bản tranh kính, ông Nguyễn Xuân Thắng không áp dụng phong cách cổ điển grisaille mà sử dụng kỹ thuật lên men chồng lớp phổ biến từ thế kỷ 16 trở đi. Kỹ thuật này cho phép tạo nên những hình ảnh phức tạp hơn bằng cách phủ nhiều lớp men trên mỗi mảnh kính, từ đó đạt được màu sắc đa dạng và sống động, đặc biệt với các gam xanh đậm, tím, xanh lục, v.v.. Bình quân từ năm đến tám lớp men sẽ được phủ rồi nung tuần tự ở nhiệt độ 600–800°C để màu ăn sâu vào kính, tạo nên sự hòa quyện vĩnh viễn².

Mỗi lớp men đều được kiểm soát nghiêm ngặt bởi màu sắc luôn biến đổi sau khi nung, phụ thuộc vào nhiệt độ lò, thời gian giữ nhiệt và sự tương tác giữa các lớp men. Chỉ khi mảnh kính ra khỏi lò, kết quả thực tế mới lộ diện. Rủi ro vỡ kính hoặc lệch tông màu luôn có, khiến nhiều mảnh buộc phải loại bỏ dù đã trải qua nhiều công sức tỉ mỉ. Toàn bộ dự án kéo dài khoảng năm năm với hàng nghìn mảnh kính được cắt, phủ men, nung lặp lại rồi làm nguội theo quy trình chặt chẽ, qua đó cho thấy quy mô và độ khắc nghiệt của một thử nghiệm vô tiền khoáng hậu trong thực hành tranh kính tại Việt Nam.

Điểm độc đáo của tác phẩm còn nằm ở cách xử lý gần 50 khuôn mặt với hệ biểu cảm phong phú, điều vốn bị xem là “tối kỵ” trong nghệ thuật kính màu, bởi tranh thánh truyền thống hiếm khi cho phép mật độ gương mặt và sắc thái biểu cảm dày đặc. Để đạt được mật độ hình tượng này, bố cục buộc phải tính toán kỹ lưỡng, tinh vi đến mức các đường ray thiếc liên kết gần như biến mất khỏi tầm nhìn, một yêu cầu chỉ có thể đáp ứng bằng kinh nghiệm tích lũy lâu năm trong phục chế tranh kính cổ của nhóm họa sỹ. Từ đó, nguồn sáng truyền ngược từ phía sau không chỉ làm bức tranh trở nên rực rỡ mà còn trao cho tranh khả năng phục hưng vẻ đẹp của nửa thiên niên kỷ trước. Đây chính là đặc quyền của chất liệu kính màu – khiến ánh sáng trở thành một phần cấu trúc của tác phẩm, trái với bích họa vốn dễ tổn thương bởi ánh sáng, độ ẩm cùng sự bào mòn của thời gian.
Tác phẩm tranh kính “Trường học Athens” là điểm nhấn nổi bật tại Bảo tàng Nghệ thuật Kính màu ở Ba Vì (Hà Nội), do ông Nguyễn Xuân Thắng sáng lập sau hơn 40 năm sưu tầm, với trên 2.000 tác phẩm đến từ các trung tâm kính màu danh tiếng như Tiffany, Mayer Munich, Murano, Bohemian, v.v.. Trải rộng trên diện tích hơn 2.000 mét vuông, bảo tàng trở thành không gian duy nhất tại Việt Nam chuyên sâu về kính màu, không chỉ dừng ở trưng bày mà còn hướng tới nghiên cứu, giáo dục, khích lệ sáng tạo đương đại và thúc đẩy sự giao thoa văn hóa Đông-Tây.
Thực hiện: Lưu Nguyệt Linh
[1] Noemí Carmona, M.A. Villegas, và J.M. Fernández Navarro, “Nghiên cứu kính phủ grisaille từ cửa kính màu di sản tại Nhà thờ lớn León (Tây Ban Nha,” trong “Khoa học bề mặt ứng dụng,” Số 252.16, Elsevier (2006), tr. 5936–5945.
[2] O. Schalm, V. Van der Linden, P. Frederickx, S. Luyten, G. Van der Snickt, J. Caen, D. Schryvers, K. Janssens, E. Cornelis, D. Van Dyck, M. Schreiner, “Men màu trên cửa kính màu: Quy trình chế tác, thành phần hóa học, cấu trúc vi mô và các nguyên nhân gây xuống cấp,” trong “Tạp chí Hóa học Quang ,” Số 64.8, Elsevier (2009), tr. 812–820.


