Sau “cuồng phong một trận tả tơi” [1]
Được biết đến rộng rãi trong lịch sử nước ta với tư cách là người phát động phong trào Cần Vương cùng với một tấm lòng yêu nước kiên trung, Vua Hàm Nghi (tên thật Nguyễn Phúc Ưng Lịch) trải qua một cuộc đời nhiều biến cố. Lên ngôi vua từ khi còn nhỏ, ngài liên tục bị thực dân Pháp rượt đuổi và gặp muôn vàn gian truân để rồi bị đày sang xứ Algeria (Bắc Phi). Cuộc đời của ngài trải qua nhiều nốt thăng trầm và từ đó đã đi vào lời ăn tiếng nói của người Huế qua khúc ca dao xót xa:
“Một nhà sinh đặng ba vua
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài.”
Ba vị vua mà người dân Huế nhắc đến chính là ba anh em ruột: vua Đồng Khánh – “vua còn”, vua Kiến Phúc – “vua mất”, và “vua thua chạy dài” chính là Hàm Nghi. Dẫu vậy, ngài đã trở thành biểu tượng cho tinh thần chống ngoại xâm của Việt Nam. Sau khi thua trận Kinh thành Huế năm 1885 (năm ấy ngài 14 tuổi), Tôn Thất Thuyết mời vị hoàng đế trẻ rời khỏi cung lên đường, ngài đã thảng thốt nói: “Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy”. Trải qua đủ khổ ải trên đường chạy nạn, nhưng được dân chúng hết lòng ủng hộ và tin yêu, ngài đã dần dần gắn bó với nhân dân và có ý thức rõ ràng hơn về vai trò hoàng đế kháng chiến của mình.

Tháng 1 năm 1889, thuyền đưa vua Hàm Nghi lưu đày cập bến thủ đô Alger của Algeria, khi ngài mới chỉ qua tuổi 18. Tại đây, ngài đã trải qua 40 năm lưu vong cho tới cuối đời dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ Pháp. Thư tín giữa ngài và quê hương bị cấm cản; mỗi lần di chuyển đều phải xin phép và có người tháp tùng. Mọi hoạt động dưới danh nghĩa Hàm Nghi đều nằm trong mưu đồ của chính phủ Pháp nhằm biến ngài thành công cụ chống lại quê hương. Nghệ thuật đã đến với ngài trong chiều kích riêng tư, cho phép ngài phát triển và giữ gìn tự do cá nhân.
Phản kháng lại nỗi cô đơn
Nhờ mối giao hảo với họa sỹ Marius Reynaud, ngài đã được truyền thụ kiến thức mỹ thuật theo phương pháp phương Tây bao gồm hình họa và hội họa. Marius Reynaud đưa Hàm Nghi đi vẽ tranh phong cảnh ngay từ khi bắt đầu học, khuyến khích ngài thực hành trực họa. Trong thư gửi nhà thơ Judith Gautier (tháng 3 năm 1902), ngài kể rằng thứ sáu này ngài cũng vẽ phác thảo thiên nhiên. Có 15 bức sơn dầu trên toan (được sáng tác từ 1899–1903) và 5 bức không rõ niên đại nhưng có phong cách tương đồng được lưu giữ tới ngày nay. Bên cạnh đó, trong 10 năm đầu tiên, vua Hàm Nghi thực hành vẽ tranh sơn dầu trên toan, các phác thảo phong cảnh đã bị thất lạc. Một danh sách liệt kê các bức họa ông đem tặng lập năm 1903 cũng bao gồm nhiều tác phẩm không được lưu giữ. Tất cả chứng tỏ một tinh thần đam mê học hỏi và tâm huyết dành cho nghệ thuật. Cũng trong lá thư gửi người bạn thân Judith Gautier, ngài thú nhận rằng “Tôi phác thảo, chỉnh sửa, vẽ đi vẽ lại nhưng tôi vẫn chưa thấy hài lòng <lắm> về mình”. [2]

Vua Hàm Nghi chịu ảnh hưởng lớn từ trường phái Ấn tượng, nhưng những dải chấm màu thiên về biểu đạt hình khối thay vì hiệu ứng ánh sáng. Ngài luôn hướng đến việc thể hiện thiên nhiên như đúng bản thân thiên nhiên, tập trung vào tranh trực họa thay vì thực hiện ký họa ngoài trời, sau đó sáng tạo thêm trong xưởng vẽ. Thay vì để phong cảnh làm phông nền cho con người, ngài xử lý thiên nhiên và cây cối trở thành chủ thể trọn vẹn trong tranh. Đây cũng là đặc trưng của trường phái Barbizon – nơi vua Hàm Nghi đã ghi dấu trong quá trình rèn luyện với người thầy Marius Reynaud. Hình ảnh gốc cây đơn côi đã lặp đi lặp lại trong hơn nửa số tranh còn được lưu lại, dường như gợi nhắc đến tuổi thơ của ngài ở xứ Huế. Bản thân vua Hàm Nghi trong một lá thư gửi bạn đã ngụ ý hình tượng cây cổ thụ là nơi ngài gửi gắm nỗi nhớ cố hương.

“Như vậy, có thể nói, các tác phẩm này […] là một phần đời tôi; tôi đọc thấy qua tranh mình vẽ: thăng trầm trong những suy nghĩ u buồn của tôi, niềm vui trong tôi cùng muôn vàn sắc thái của nó, tôi lần lượt là ủi từng nếp gấp trong trái tim mình, và với tôi, nguồn cảm hứng để khai thác chính là sự khích lệ và những niềm an ủi.” – Trích thư nháp của Hàm Nghi gửi đại tá De Gondrecourt. [3]
Nếu như hình ảnh con người xuất hiện, thì mục đích chính vẫn phục vụ ám tả nỗi cô đơn và nỗi niềm khắc khoải khi thời gian trôi qua. Gốc cây cao lớn mở ra nhiều cách diễn giải, nhưng tựu trung, người xem đều có thể cảm nhận được nỗi cô đơn của vị hoàng đế khi chịu cảnh lưu đày, dù bản thân ngài không thừa nhận điều này trực tiếp. Khi vẽ tranh, ngài đã chạm đến tự do theo cách trong sáng nhất, bởi ngài đã cho phép bản thân được chìm đắm trong vẻ đẹp thiên nhiên bất chấp những u sầu buồn tẻ.

Do trải qua nhiều biến cố từ khi còn trẻ, việc học của vua Hàm Nghi đã bị gián đoạn. Thậm chí ngài không còn nhớ chữ Hán, sau này khi học tiếng Pháp, ngài cũng vấp nhiều khó khăn. Thời kỳ lưu vong diễn ra đúng vào thời điểm Việt Nam đang trải qua quá trình chuyển đổi ngôn ngữ khi chữ Hán nhường chỗ cho chữ quốc ngữ. Ngài không thể liên lạc thư từ với các thành viên khác trong gia tộc, vì họ không biết tiếng Pháp, đồng thời bị chính phủ Pháp giám sát chặt chẽ thư tín. Ngài cũng không được hưởng nền giáo dục chữ quốc ngữ. Có lẽ đây là một trong những bi kịch lớn nhất trong cuộc đời vua Hàm Nghi: khi ngài bị tước đoạt văn hóa và gần như mất khả năng giao tiếp. Việc học tập kiến thức phương Tây, bao gồm hội họa và âm nhạc, đã trở thành lối thoát cho tâm trạng trầm uất nơi xứ người.

Dấu chỉ lối vượt qua không-thời gian
Dù sống trong cảnh lưu đày, vua Hàm Nghi vẫn luôn hướng về quê hương. Ngài đã nhờ bạn mình gửi ấn phẩm tờ rơi, báo chí, sách về Đông Dương để tra cứu. Trong thư, ngài luôn bày tỏ niềm vui khi được nhận những món quà này, nghĩa rằng tình yêu ngài dành cho quê hương chưa bao giờ phai nhạt.
“Anh đến từ Paris, anh có thể biết hết các cuốn sách […] mới ra; nếu anh nhận thấy […] <những cuốn> mà […] lấy đối tượng là Đông Dương, […] xin hãy vui lòng cho tôi biết nhà xuất bản và giá cả, anh thật tốt bụng khi thỉnh thoảng lại gửi cho tôi những cuốn sách <hay>, điều đó khiến tôi […] vui vô cùng.” – Trích thư vua Hàm Nghi gửi Georges Lahaye. [4]

Bởi vậy, khi chiêm ngưỡng tranh của vua Hàm Nghi, người xem luôn mơ hồ cảm thấy một nỗi buồn hoang hoải, ví như hình ảnh cây cổ thụ đơn côi vốn thường xuất hiện trong phong cảnh truyền thống Việt Nam thời Nguyễn, khi những thân cây mọc cao giữa đồng lúa bao la. Nỗi niềm trống vắng đó đã khiến tranh ngài có thêm sự hiện diện của con người – không phải nhân vật trong tranh, mà là người họa sỹ đằng sau giá vẽ. Thế giới trong tranh là nơi vua Hàm Nghi tìm thấy chính mình, dù ngài không hoàn toàn thuộc về phong cảnh trước mắt. Hoàng đế-họa sỹ hay họa sỹ-hoàng đế? Dưới bất kể tư cách nào, ngài đã để lại trên toan một khối tình riêng – một chỉ lối cho tâm hồn ngài được kết nối về nguồn cội.
——————
“Trời, Non, Nước | Allusive Panorama” chặng Hà Nội phối hợp tổ chức cùng Viện Pháp tại Việt Nam và Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Sự kiện còn có sự đồng hành từ HDBank Priority, đối tác văn hóa Trung tâm Thông tin UNESCO (UNET), đối tác truyền thông Tạp chí điện tử Ngày Nay, cùng một số đơn vị khác.

[1] Judith Gautier, “Tử Xuân”, Nguyễn Thụy Đan dịch, NXB Khoa học Xã hội, p.13.
[2] Vua Hàm Nghi, Thư nháp gửi Judith Gautier, 6.6.1901, BHN 30.36, FHN. Nguồn: Nghiên cứu của tiến sỹ Amandine Dabat.
[3] Vua Hàm Nghi, Thư nháp gửi đại tá De Gondrecourt, 01.01.1897. BHN 4.14, FHN. Nguồn: Nghiên cứu của Tiến sỹ Amandine Dabat.
[4] Vua Hàm Nghi, Thư nháp gửi Georges Lahaye, 2.11.1896. PHN 384, FHN. Nguồn: Nghiên cứu của tiến sỹ Amandine Dabat.
Thực hiện: Hoa.


