Giữa bao đề tài mỹ thuật hiện đại Việt Nam, từ phong cảnh, chân dung cho đến tĩnh vật, hình ảnh người phụ nữ thêu thùa khâu vá hiện lên như một mảng sáng riêng, vừa bình dị vừa giàu sức gợi. Đó là cảnh đời thường quen mắt, nhưng lại có khả năng chạm đến tận sâu tâm hồn người xem bởi sự hòa quyện giữa cái động và cái tĩnh, giữa bàn tay lao động và gương mặt trầm tư, giữa ánh sáng dịu dàng của không gian gia đình và dáng hình lặng lẽ của người phụ nữ.
Trong ký ức của nhiều thế hệ về nếp nhà xưa, người ta thường thấy bà, thấy mẹ, thấy chị ngồi vá áo, đan len, thêu khăn, v.v.. Đó là một thế giới riêng tư, nơi phụ nữ quây quần với nhau, vừa làm vừa chuyện trò. Chính vì vậy, khi một họa sỹ nam bước vào không gian ấy, quan sát và ghi lại, sự hiện diện đó mang tính đặc biệt. Ông trở thành nhân chứng và cũng là người lưu giữ một khoảnh khắc đầy nữ tính, kín đáo. Có lẽ bởi thế mà tranh thêu thùa khâu vá trong hội họa Việt Nam hiện đại luôn toát ra cảm giác thân mật, gần gũi, vừa như mở ra cho người xem cánh cửa dẫn tới những phút giây bình yên chậm rãi, vừa như kín đáo bày tỏ niềm mến mộ bản tính nhu mì kiên nhẫn của người phụ nữ.
Khi thêu thùa bước vào hội hoạ
Trong “Thợ khâu” (1930) của Nguyễn Phan Chánh, bốn phụ nữ ngồi san sát trong gian nhà vách gỗ, dáng người trầm lặng mà bền bỉ. Từng khuôn mặt cúi nghiêng, bàn tay miệt mài khâu vá, tạo thành một nhịp điệu khép kín, đều đặn như một bài ca lao động. Bố cục giản dị, gam màu nâu trầm và xám mộc mạc vừa gợi nên sự chân thực của nếp sống, vừa làm nổi bật vẻ đẹp cần mẫn, kiên trì.

Mai Trung Thứ, trong nhiều tranh lụa thập niên 1940, thường khắc họa thiếu nữ áo dài ngồi bên rổ đồ khâu vá, dáng ngồi và cử chỉ trang nhã gắn với vẻ thanh khiết của tâm hồn. Ở bức “Lớp học khâu” (1944) khi ông vẽ cảnh cô chị dạy em khâu vá, chất thơ quen thuộc lại được điểm thêm niềm vui tươi, háo hức của bầy trẻ trong không gian êm đềm của tuổi thơ. Khung cảnh bình dị ấy trở thành một ẩn dụ tinh tế về mạch đời truyền nối và ngân nga như một giai điệu trong trẻo của ký ức.

Chứng kiến một người ngồi khâu vá, đan lát, người ta như thấy trong mình trỗi dậy một cảm giác nguyên sơ, bình yên như thể ký ức xa xưa của nhân loại về tổ ấm, về đôi bàn tay chăm chút đã được đánh thức. Cảm giác ấy, chính là bản năng, và khi đi vào tranh, nó được họa sỹ truyền tải bằng màu sắc, ánh sáng, nhịp điệu. Trong “Thiếu nữ đan len” (khoảng 1950) của Lương Xuân Nhị, cô gái khẽ cúi, đôi tay thon dài thoăn thoắt đan chiếc áo len màu sậm. Chiếc khăn san quấn trên đầu gợi cảm giác se lạnh của một ngày chớm đông, nhưng toàn bộ khung cảnh với gam vàng thư, nâu và đỏ sậm lại tỏa ra hơi ấm và cảm giác bình yên lên cả nhân vật và người vẽ.
Còn trong “Gia đình ở trong vườn” (1938) của Lê Phổ, ta thấy nhân vật trung tâm là thiếu phụ mặc áo dài trắng hòa trong ánh nắng và màu lá xanh, tay trái đưa kim cong lên duyên dáng, tay phải nhẹ nâng mảnh khăn lụa mềm. Với sự dịu hiền quán xuyến, nàng vừa để tâm tới gia nhân đang làm việc, con trẻ học bài xung quanh mình trong khi vẫn chăm chú với từng mũi khâu. Những nhân vật động trong tranh, những lá và tán cây đu đưa trong nắng gió, v.v. dường như cùng ngưng đọng khi mắt nhìn ta dừng lại ở dáng người ngồi khâu yên bình, một gia cảnh ấm êm.

Trong một bức tranh đặc biệt cảm động, “Ba mẹ con trên cỏ” (1960–1965), Lê Thị Lựu vẽ người mẹ ngồi trong vườn, tay bồng bé em và chỉ cho bé chị tập tành khâu vá bên rổ vải và tơ thêu. Ánh sáng phủ dịu dàng lên ba gương mặt, nụ cười mỉm mà mẹ và chị đang chia sẻ với nhau chắc hẳn vì chị được khen học khâu rất giỏi. Tình mẫu tử lan trong không gian khiến ta không khỏi rung động vì sự gắn kết và thấu hiểu giữa hai thế hệ thông qua đường kim mũi chỉ.

Có khi, đời thường bước vào tranh một cách bất ngờ và gần gũi. Bùi Xuân Phái, trong ký họa “Bà Phái ngồi khâu” (1952), ghi nhanh dáng người vợ với nét chì phóng khoáng, không cần bóng bẩy, chỉ để giữ lại một khoảnh khắc riêng tư thấm đẫm tình cảm. Trần Văn Cẩn, trong “Em Khánh” (1969), vẽ cô gái trẻ ngồi khâu, đôi tay chắc chắn, gương mặt vừa hồn nhiên vừa trầm tư. Ở đây, thêu không chỉ là lao động, mà là khoảnh khắc chiêm nghiệm, soi chiếu nội tâm.

Từ bàn tay vẽ đến bàn tay thêu
Bên cạnh không gian gia đình, ta thấy những bức tranh tả cảnh lao động tập thể vừa mang giá trị thẩm mỹ vừa trở thành tài liệu thị giác về di sản phi vật thể mà cụ thể ở đây là nghề thêu. Bức “Xưởng thêu” (1950) của Lương Xuân Nhị miêu tả cảnh thêu áo bào trong một làng nghề truyền thống bao gồm cả đàn ông và phụ nữ quây quần quanh tấm thêu dài tạo hình rồng phượng, xung quanh là những hộp sơn khảm đựng đồ nghề quý, có lẽ là chỉ tơ và chỉ vàng, chiếc kéo uốn kiểu cổ, trẻ em quanh quẩn học việc. Đó là một xưởng thêu truyền thống mà nay không còn thấy nữa.

Bức “Cô thêu” (1957) của Nguyễn Phan Chánh đặc tả bàn tay cầm kim thêu mà chỉ những thợ giỏi đã khổ luyện theo lối làng nghề xưa mới có: hai ngón cái và trỏ nắm thân kim thật chặt, ngón tay chính giữa chọc kim theo phương thẳng đứng tạo độ chính xác cho từng chân tơ, ngón út cong lên theo nhịp kéo sao cho sợi chỉ tơ nằm thật đều trên mặt vải.

Bức “Lớp học thêu” (1958) của Trần Đông Lương lại gợi tả một không khí mới của thêu. Những thiếu nữ thành thị, với tà áo dài tân thời và tóc phi-dê, ngồi ngay ngắn với ánh mắt tập trung, không khí trao đổi nghề vui vẻ rộn ràng. Những mẫu thêu hoa lá mới du nhập, khung thêu tròn bên cạnh khung vuông truyền thống hé mở một thời kỳ thay đổi và chuyển mình của nghề thêu.

Ở giữa những phân tích ấy, ta không thể quên một chi tiết kỹ thuật: vẽ người thêu thùa khâu vá nghĩa là vẽ bàn tay. Các bậc thầy ở trường Mỹ thuật Đông Dương thường nhắc sinh viên bằng câu tục ngữ cổ, “khôn dồn lên mặt, què quặt hiện ra chân tay”, ý nói vẽ tay chân bắt buộc phải vững hình, không thì sẽ rất dễ bị lộ yếu kém về mặt hình họa. Khi họa sỹ chọn vẽ cảnh khâu vá, tức là chọn một thách thức: phải làm nổi bật đôi bàn tay, vừa động vừa tĩnh, vừa mềm mại vừa chắc chắn, đặc biệt trong những tranh có nhiều nhân vật cùng thêu, khâu thì còn cả sự đa dạng về hình thái, cấu trúc và cái hồn của từng đôi tay nữa. Đó cũng là lúc tài năng tạo hình bộc lộ rõ nhất.
Ký ức hiện diện trong những nhịp thêu
Ngày nay, nghệ sỹ đương đại ít còn chọn đề tài này. Nhưng phải chăng, nếu nhìn sâu vào đời sống hôm nay, ta vẫn có thể bắt gặp bóng dáng người mẹ, người bà ngồi khâu vá bên ánh đèn, lặng lẽ giữ cho gia đình hơi ấm. Vẻ đẹp của sự bình yên chậm rãi ấy, nếu còn được nhận ra, sẽ vẫn luôn là nguồn cảm hứng vô tận. Những hình ảnh ấy không chỉ miêu tả sinh hoạt mà còn vô tình trở thành bản ghi chép quý giá về di sản nghề tằm tang, kéo sợi, thêu thùa – vốn nay đã phai nhạt trong đời sống thường nhật. Chúng cho ta thấy tư thế, dáng ngồi, công cụ, thậm chí cả nhịp lao động của phụ nữ xưa, những điều hiếm còn bắt gặp ngoài ký ức hoặc bảo tàng. Ở khía cạnh ấy, hội họa không chỉ làm đẹp mà còn lưu giữ, nhắc nhớ và tiếp nối một phần di sản đang dần mai một.
Hình ảnh thêu thùa khâu vá trong hội họa Việt Nam, qua gần một thế kỷ, còn là minh chứng cho khả năng của nghệ sỹ khi chuyển hóa đời thường thành nghệ thuật. Mỗi bức tranh là một trang ký sự của đôi bàn tay, là nơi họa sỹ thử thách trình độ tạo hình, và cũng là nơi tình cảm thầm lặng được gửi gắm. Từ đó, ta hiểu thêm rằng cái đẹp không phải lúc nào cũng nằm ở sự lớn lao, kịch tính, mà đôi khi lặng lẽ trú ngụ trong những sợi chỉ mảnh mai, trong nhịp tay cần mẫn của người phụ nữ ngồi bên kim chỉ thêu thùa.
Thực hiện: Phạm Ngọc Trâm


