Tai Nổi Tai Chìm: Lắng nghe Sông Hồng trong kỷ Chthulucene

Vũ Thục Khuyên là một nhà nghiên cứu đô thị và người thực hành sáng tạo tại Hà Nội. Với nền tảng kỹ thuật đô thị và thạc sỹ Quy hoạch & Nghiên cứu Đô thị tại Paris (École d’Urbanisme de Paris), cô kết hợp nghiên cứu không gian với kể chuyện đa phương tiện để khám phá các chiều kích xã hội của đời sống đô thị. Hiện cô là Cán bộ nghiên cứu & truyền thông tại Think Playgrounds, đồng thời cộng tác với Tạp chí Kiến trúc và các tổ chức, không gian nghệ thuật như Manzi, Á Space và The Onion Cellar trong vai trò dịch giả, thiết kế âm thanh, và nhạc sỹ.

Henri Lefebvre từng mô tả “không gian trừu tượng” (abstract space) là nơi thị giác chiếm quyền thống trị, làm lu mờ các giác quan khác như vị giác, khứu giác, xúc giác và cả thính giác [1]. Như một đối âm nhất định với “hình thái thị giác” (visual formant) này, phân tích nhịp điệu (rhythmanalysis) đã trở nên thiết yếu đối với công việc của các nghệ sỹ và nhà nghiên cứu đô thị trong việc phân tích sự sản xuất không gian. Đây là những cuộc thám hiểm vào tính thời gian và nhịp điệu của đời sống thường nhật, những thứ mà âm thanh và rung động khơi gợi lên từ cả những vật thể khiêm nhường nhất và những thực hành vụn vặt nhất. Điều này không chỉ tồn tại trên bình diện thảo luận lý thuyết tại Việt Nam: nhiều thử nghiệm nghiên cứu âm thanh, các cuộc gặp gỡ và sắp đặt nghệ thuật được tổ chức bởi các tập thể và tổ chức nghệ thuật như The Onion Cellar, Á Space, Manzi, và Đom Đóm đã được công chúng biết đến qua nhiều năm. Những hoạt động này diễn ra song song với sự phát triển của một thế hệ nghệ sỹ thử nghiệm liên ngành mới, trong bối cảnh không gian của đô thị hóa tăng tốc (ở cấp độ hành tinh) [2] và nhu cầu cấp thiết phải nhìn thành phố bằng những giác quan khác.

Workshop “Tai nổi – Tai chìm (Amphibian Ears),” được điều phối bởi Kosmas Phan Đinh và tổ chức bởi ba-bau AIR với sự hỗ trợ từ Think Playgrounds, tập trung vào thu âm hiện trường (field recording) và lắng nghe lai ghép dọc bờ sông Hồng. Đây là một trong những ví dụ mới nhất trong việc tìm kiếm dấu vết của những nhịp điệu này, của một thực tại âm thanh khác biệt (differential sonic reality), trong mối liên hệ với nước, với những cuộc đời phi chính thức, và với cơ chế khai thác mà các thiết bị của chúng ta vận hành. Theo một nghĩa nào đó, đây là một sự đồng-kiến-tạo (sympoiesis) [3] giúp chúng ta đáp lại Kỷ Nhân sinh (Anthropocene) bằng cách nuôi dưỡng những kết nối giữa thế giới con người và phi-nhân.

 

Người tham gia dạo bước lắng nghe ven sông Hồng. Ảnh: Vũ Thục Khuyên.

 

Và rồi, thật buồn cười và cũng thật trùng hợp, tôi không tham gia workshop này chỉ với tư cách là một người hỗ trợ ghi hình: Kosmas và tôi vừa chia sẻ cùng một sân khấu tại olo mini-fest do Hanoi Bedroom Show và The Onion Cellar tổ chức ngay thứ Bảy tuần trước. Theo một cách nào đó, dù không trực tiếp đóng góp vào các tư liệu của workshop, tôi lại có một may mắn đặc biệt là có được một góc nhìn đặc biệt, với tư cách là một nhà nghiên cứu đô thị, một thành viên của Think Playgrounds, và cũng là một nhạc sỹ, về quá trình tạo nên sự kiện đặc biệt này. Chẳng may đóng vai một nhà “dân tộc học tự sự” (accidental auto-ethnographer): cũng giống như bộ chuyển đổi của máy ghi âm và các cảm biến của micro (bao gồm cả micro thu dưới nước và micro tiếp xúc) ghi lại những cảm năng âm thanh (sonic affect) của sự vật, công việc của một nhà nghiên cứu đô thị cũng là để bản thân cảm nhận hoàn toàn sự rung động của các quá trình được đặt lên thực tại không gian.

Tôi vẫn nhớ cuộc thảo luận với chủ quán Anatolia đêm đó, nơi cả hai chúng tôi đều đồng ý rằng điều chúng tôi tìm kiếm trên sân khấu không phải là sự thoát ly, mà là một sự thám hiểm sâu hơn vào âm thanh, tính vật chất của nó vang vọng khắp căn phòng, kết nối những con người hít thở cùng một bầu không khí và những cỗ máy chạy trên cùng một nguồn điện. Nhìn ra màn đêm sâu thẳm của Hà Nội từ tầng 7 tòa nhà của HUB, chúng tôi tự hỏi về mọi thứ đang diễn ra trên thế giới này, và rồi, bằng cách chia sẻ những âm thanh, cả hai chìm mình vào chiều kích cụ thể đó, giữa một cảnh quan đô thị đầy bấp bênh.

Theo một cách nào đó, cảm thức ấy cũng được chia sẻ trong suốt workshop Tai nổi – Tai chìm. Cái (phi) nơi chốn (non-place) nơi sự kiện diễn ra, Xóm Phao, là một khu định cư phi chính thức nằm không xa trung tâm Hà Nội, nép mình dọc bờ sông Hồng (cụ thể là khu vực phường Phúc Xá và Ngọc Thụy). Là nơi cư ngụ của những lao động di cư, nhiều người trong số đó không có giấy tờ tùy thân, Xóm Phao là một cộng đồng gắn kết chặt chẽ gồm khoảng 25–35 hộ gia đình, chủ yếu là người già, các gia đình và người lao động ngoại biên khỏi hệ thống quản lý hành chính công của thành phố. Hầu hết cư dân kiếm sống bấp bênh qua các công việc phi chính thức, như nhặt ve chai, rửa bát cho nhà hàng, hoặc làm lao động chân tay tại chợ đầu mối Long Biên gần đó. Với những đường dây điện tự kéo và giếng khoan, những cư dân này ở trên những ngôi nhà nổi làm từ thùng phuy, ván ép, tôn và phế liệu tái sử dụng, neo vào lòng sông nhưng dập dềnh theo con nước. Do đó, khu vực này cực kỳ dễ bị tổn thương trước tác động liên tục của biến đổi khí hậu, với Bão Yagi năm 2024 và Bão Bualoi năm 2025 về cơ bản đã quét qua khu vực này. Think Playgrounds đã đồng hành cùng Xóm Phao trong hơn 10 năm qua, tập trung vào việc hỗ trợ cộng đồng và cải tạo không gian sống. Với bề dày kinh nghiệm trong các can thiệp đô thị bao trùm và tổ chức học tập-phục vụ cộng đồng (service-learning) tại nhiều thành phố lớn, sứ mệnh của chúng tôi là đóng góp vào sự phát triển cộng đồng cũng như tái thiết khu vực. Tại Xóm Phao, chúng tôi đã góp phần cải tạo 10 ngôi nhà nổi và duy trì mối liên kết mật thiết với cư dân. Vì vậy, chúng tôi đã may mắn được ba-bau AIR liên hệ để hỗ trợ địa phương và kỹ thuật cho workshop này.

 

Bác Được giới thiệu về Xóm Phao. Ảnh: Vũ Thục Khuyên.

 

Khi thời gian có tính chu kỳ, của những cơn sóng sông lên xuống ngoài kia ở vùng nước động, sự chuyển động lên xuống của những ngôi nhà, và của những sinh vật, ngỗng, chó, mèo, vi khuẩn, sống ở đây và chết ở đây, thứ mà Lefebvre đã nêu ra trong tác phẩm “Phân tích nhịp điệu” [4] [Tham chiếu: Lefebvre, Rhythmanalysis], không thể nào rõ ràng hơn, chúng tôi, với tư cách là những người tham gia, đã được chào đón bởi một cấu hình không gian hỗn độn được định nghĩa bởi sự vướng mắc sâu sắc của mọi sinh vật sống trong bối cảnh khủng hoảng sinh thái, hay như Donna Haraway gọi tên, kỷ Chthulucene [3]. Mỗi bước chân chúng tôi đi, chứng kiến rác thải xây dựng lấn chiếm bờ sông và hàng xóm hát vang karaoke giữa ban ngày, đã minh chứng cho một lối sống sống động đến ngạc nhiên, như những sinh vật (critters) cùng nhau lấm lem lội qua mớ hỗn độn.

 

Những sinh vật tại Xóm Phao. Ảnh: Vũ Thục Khuyên.

 

Do đó, thật thú vị khi thấy những người tham gia, một số làm việc trong các lĩnh vực sáng tạo, với mục đích ban đầu có lẽ là networking và thực hành thu âm hiện trường (một lý do nghề nghiệp dễ hiểu), đã trở nên bị mê hoặc bởi các bài tập lắng nghe và các thiết bị thu âm. Chúng tôi được hướng dẫn để nghe, có lẽ là lần đầu tiên, âm thanh gần nhất và âm thanh xa nhất, khi đang ngồi trên nhà nổi của bác Được, lãnh đạo thực tế của cộng đồng. (Buồn cười thay, bài tập lắng nghe đã xoay xở để làm sao vượt qua được tiếng ồn do bác Được đang sửa chữa gì đó trong nhà, tôi đoán vậy). Sau đó, chúng tôi được dẫn đi một vòng xem các ngôi nhà, nhà cũ và nhà mới, với một chút bối cảnh xã hội học về cộng đồng (và bằng cách nào đó, có một khu thể thao khỏa thân gần đấy mà chúng tôi đã đủ cẩn thận để không lại gần). Cùng với bài phát biểu giới thiệu chân thành của bác Được về lịch sử nơi này, cách họ sống, cách bọn trẻ có thể đến trường và thật may mắn là đều ham học bất chấp những khó khăn cả về tự nhiên lẫn hành chính, chúng tôi bắt đầu thoải mái để thám hiểm một chiều kích ngầm của một “nơi chốn thiểu số” (theo nghĩa của Deleuze [5]) với máy ghi âm và micro được Kosmas hướng dẫn kỹ lưỡng. Trong số các micro, có micro thu dưới nước, micro thu dưới nước được bố trí để thu stereo, và kỳ lạ thay, cả một gia tốc kế (accelerometer) được chuyển đổi để ghi lại các rung động. Những người tham gia được phép ghi âm, lắng nghe và ghi chép lại mọi thứ, từ những rung động vi mô của chậu cây cảnh trên nhà nổi, tiếng bước chân trên sàn, tiếng heo nướng xèo xèo, tiếng lưới thép bên ngoài nhà chuyển động, tiếng cột đá ngoài rìa sông, tiếng nước chuyển động từ con sông, hay bầu không khí bên trong nhà nổi, tất cả đều với một sự thích thú vô cùng. Trong bối cảnh này, tai của con người, vốn đã quen để nghe âm thanh trong không khí và để hiểu ngữ nghĩa, không thể không bị giải lãnh thổ hóa [6] để lắng nghe nước và vật chất, trong một tiến trình trở-thành-hậu-người (becoming-post-human).

 

Người tham gia workshop làm quen với các thiết bị thu và micro. Ảnh: Vũ Thục Khuyên.

 

Một yếu tố quan trọng được lướt qua trong hướng dẫn của Kosmas là lời nhắc nhở về độ nhạy của thiết bị: nhỏ quá thì ta không nghe rõ, lớn quá thì tiếng ồn bắt đầu lấn át giác quan, và những chi tiết nhỏ nhất sẽ bị mất đi. Theo một cách nào đó, sự nhận biết này tương phản với cảnh quan âm thanh được chọn lọc / giám tuyển (curated soundscape) vốn được tạo ra bởi giác quan con người đã được thuần hóa trong việc lờ đi tiếng ồn, chủ yếu là những tiếng ồn tầm thường do giao thông và xây dựng tạo ra, và bởi thuật toán của các nền tảng âm nhạc cùng công nghệ chống ồn cho phép một sự di chuyển tuyến tính trong không gian đô thị, tận hưởng một sự im lặng nhân tạo, hay chỉ vừa đủ lượng tiếng ồn trắng và các tạo tác văn hóa mang tính toàn cầu (những bài hát) để xoa dịu cuộc sống đô thị thường nhật. Cách tiếp cận này chia sẻ một DNA nhất định với thực hành của các nghệ sỹ ambient và noise về tính bất định và không thể dự đoán: Soliloquy for Lilith của Nurse with Wound chẳng hạn, hay các bản thu của Claire Rousay, nhưng ví dụ nổi bật nhất để so sánh phải là Radio Amor của Tim Hecker, bản thân được lấy cảm hứng từ một ngư dân và người đánh bắt tôm, và hài hước là, được phát hành dưới nhãn đĩa Mille Plateaux, tất nhiên là tham chiếu đến tác phẩm của Deleuze và Guattari [6].

 

Người tham gia workshop làm quen với các thiết bị thu và micro. Ảnh: Vũ Thục Khuyên.

 

Một câu chuyện vui: sau phiên làm việc, chúng tôi ngồi lại và nghe các bản ghi âm mà người tham gia đã thực hiện. Tôi đùa với Trần Uy Đức, cũng là người đứng sau Hanoi Bedroom Show và là một trong những người tham gia, rằng những âm thanh này nghe rất giống nhạc mà họ làm. Để kể thêm một chút vào việc họ là một trong số ít nghệ sỹ được Pitchfork giới thiệu với album năm 2021 Came, tôi đã vinh dự được xem một trong những buổi biểu diễn đầu tiên của họ trong chương trình cine-concert Bóng Bay Đỏ do The Onion Cellar và TPD tổ chức hồi năm 2020, và được tham gia cùng họ và Trần Duy Hưng trong ngày cuối cùng của olo mini-fest.

Điều này cũng làm tôi nhớ đến các tác phẩm của một trong những nghệ sỹ yêu thích của chúng tôi, Phil Elverum, với các dự án nổi bật The Microphones và Mount Eerie, nghệ sỹ mà con đường âm thanh của anh đã đi từ một vị trí xuất phát của ẩn dụ đến hiện thực tàn khốc, vật lộn với sự căng thẳng giữa sự vô thường vĩnh cửu của tự nhiên và những cấu trúc tạm bợ, vụn vỡ của đời sống con người. Khi mà Mặt Trăng và Cơn Gió là tâm điểm trong The Glow Pt. 2 [7] như những lực lượng tự nhiên thần bí, áp đảo trong vũ trụ lạnh lẽo và bao la, thì giờ đây là Bàn Chải và Túi Rác và Cháy Rừng trong A Crow Looked At Me [8], hay Đám Cháy Lớn và Lõi Giấy Vệ Sinh Rỗng hay là Giải Thực Dân Hóa Phi Ẩn Dụ trong Night Palace [9]. Những tác phẩm này về cơ bản đã đưa giấc mơ về sự vô thường (impermanence) trở về một thực tại tỉnh táo, một thực tại của sự đổ nát và phá hủy, cố gắng xây dựng một mái nhà trong đống gạch vụn còn sót lại, một cách đầy xác đáng. Và trong sự trì hoãn vô hạn của thực tại đô thị, trong sự bấp bênh chực chờ của việc di dời với dự án đô thị sông Hồng sắp tới, một dự án với cảnh quan được kiến tạo, cây xanh được làm sạch và lời hứa về hiện đại hóa cùng tăng trưởng kinh tế, tên bài hát cuối cùng của Night Palace hiện lên trong tâm trí tôi: I Need New Eyes.

Và thế là, ngày kết thúc với việc chúng tôi thưởng thức bữa tối cùng nhau như một sự tiếp nối của quá trình đồng-kiến-tạo (sympoiesis), với lẩu gà và rau tầm bóp (physalis angulata), một loài cây bản địa được nhắc đến ít nhất ba lần trong bữa ăn là thứ chúng ta không thể mua ngoài chợ. Điều này càng thể hiện một thứ vốn văn hóa (cultural capital) nhất định mà chúng tôi, có lẽ là tầng lớp sáng tạo đô thị, chia sẻ với nhau để mà trân trọng một thực thể tự nhiên quý giá trong cuộc tìm kiếm bất tận nhằm tiêu thụ (một cách đạo đức) những sản phẩm phi thương mại, cũng tương tự như các đĩa nhạc của thể loại thu âm hiện trường thôi. Nhưng gạt sự tự trào sang một bên, thì đây là một bầu không khí cảm năng (affective atmosphere) mà những người thực hành đa lĩnh vực cùng chia sẻ. Một bầu không khí lưỡng cư: chính chúng tôi đang ở trên nhà nổi, bao quanh bởi những ánh đèn chập chờn đôi chút được thắp sáng bởi đường dây điện tự kéo, cường độ của nó dao động nhẹ nhàng theo nhịp điệu đô thị, ngoài kia và trong này, trong một vùng giải lãnh thổ và tái lãnh thổ hóa.

 

Những người tham gia workshop cùng nhau nghe lại những bản ghi. Ảnh: Vũ Thục Khuyên.

 

Tôi đoán đó là một trong những cách chúng ta có thể “sống cùng rắc rối” (stay with the trouble) [3], và để giải âm (unmute) những sự sống ẩn giấu, để trao sự hiện diện cho những thực thể, những sinh vật, đang trôi chảy trong cái bóng thầm lặng của các quá trình đô thị hóa.

Tài liệu tham khảo:

[1] C. Schmid, Henri Lefebvre and the Theory of the Production of Space. Verso Books, 2022.
[2] N. Brenner, Implosions /Explosions: Towards a Study of Planetary Urbanization. Jovis Verlag GmbH, 2015.
[3] D. J. Haraway, Staying with the Trouble: Making Kin in the Chthulucene. Duke University Press, 2016. doi: 10.1215/9780822373780.
[4] H. Lefebvre, Rhythmanalysis: Space, Time and Everyday Life. Continuum, 2004.
[5] G. Deleuze and F. Guattari, Kafka: Toward a Minor Literature. University of Minnesota Press, 1986.
[6] G. Deleuze and F. Guattari, A Thousand Plateaus: Capitalism and Schizophrenia. University of Minnesota Press, 1987.
[7] The Microphones – “The Glow” Pt. 2. 2001. Accessed: Jan. 29, 2026. [Online]. Available: https://www.discogs.com/master/54873-The-Microphones-The-Glow-Pt-2
[8] Mount Eerie – A Crow Looked At Me. 2017. Accessed: Jan. 29, 2026. [Online]. Available: https://www.discogs.com/master/1154519-Mount-Eerie-A-Crow-Looked-At-Me
[9] Mount Eerie – Night Palace. 2024. Accessed: Jan. 29, 2026. [Online]. Available: https://www.discogs.com/master/3645021-Mount-Eerie-Night-Palace

Thực hiện: Vũ Thục Khuyên

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Dư ba một phổ họa Kiều

“Kim Vân Kiều” với 6 phụ bản minh hoạ được các họa sỹ Đông Dương nổi tiếng thực hiện, là một đại diện thú vị cho hoạt động phổ hoạ văn học thời bấy giờ.

Mỹ học Trung Hoa cổ điển vũ

Nhà phê bình nghệ thuật Trần Đan Vy giới thiệu về múa cổ trang Trung Quốc – trào lưu văn hóa đang phát triển ở Việt Nam những năm gần đây.

Mộc gốm Biên Hòa – Dấu xưa còn mãi

Nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Quý chia sẻ những hiểu biết về cách nhận biết và xác thực các dấu mộc đóng trên sản phẩm gốm của Trường Mỹ thuật Biên Hòa xưa.

Ấn phẩm