
Năm nay, Giải thưởng Dogma 2025 tiếp tục vai trò thúc đẩy, khuyến khích phát triển nghệ thuật đương đại. Triển lãm trưng bày các tác phẩm của chín nghệ sỹ đoạt giải từ khắp ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia gồm Thủy Tiên Nguyễn, Bi Tuyền, Nguyễn Đức Tín, Willie Xaiwouth, Hằng Hằng, Hul Kanha, Hà Đào, Lê Tuấn Ry và Đỗ Văn Hoàng. Các tác phẩm được đánh giá bởi ban giám khảo giàu kinh nghiệm, bao gồm nghệ sỹ Thảo Nguyên Phan, giám tuyển Bill Nguyễn và tiến sỹ lịch sử nghệ thuật Pamela Corey. Các nghệ sỹ được lựa chọn theo các tiêu chí đại diện cho sự đa dạng từ công việc, sở thích đến quê hương của họ, tạo nên một bức tranh đa dạng về những trải nghiệm cá nhân và ký ức lịch sử cho triển lãm.
Chín nghệ sỹ này là minh chứng cho sự đa dạng của thực hành nghệ thuật, từ tuổi nghề, tới chất liệu, và tới cả đề tài. “Quá trình đánh giá thực sự rất khó,” ban giám khảo nhận xét. “Chúng tôi cực kỳ ấn tượng với sự táo bạo và chân thành trong thực hành nghệ thuật của họ, khám phá những chủ đề phức tạp nhưng vẫn giữ được liên kết với cộng đồng và di sản của họ. Họ mang tới những góc nhìn rất riêng, phần nào giúp chúng tôi hiểu hơn về nghệ thuật đương đại cũng như cách nó soi chiếu thế giới ngày nay.”
Mỗi tác phẩm là sự hiển lộ của quá khứ, của ký ức cá nhân và tập thể được thực hiện hóa ra thế giới vật lý qua sự tái hiện bằng âm thanh, hình ảnh và vật chất bởi chín nghệ sỹ xuất sắc.

Tại đây, ký ức đầu tiên được bắt đầu bởi âm thanh vang vọng từ tác phẩm “Không đề (Ghi chú về lãng mạn và những thành phố)” của Thủy Tiên Nguyễn với sáu khối gỗ nổi bật được trưng bày dọc cầu thang của tòa nhà. Được biết đến qua những thực hành nghệ thuật đương đại xoay quanh sự biến đổi của ký ức, tác phẩm của Thủy Tiên khám phá cách chúng biến dạng, chuyển đổi và tự tái cấu trúc theo thời gian. Những khối gỗ của cô không đơn thuần là các điêu khắc thu nhỏ của vật dụng hay chủ đề đời thường như một bản nhạc, những âm thanh đường phố, ánh đèn LED nhấp nháy, hay những chiếc ghế cổ và bức tranh sơn thủy quen thuộc trong văn hóa Á Đông. Các khối hộp là một thế giới riêng biệt, một tiến trình ký ức được lắp ráp từ các mô-đun, kết hợp cùng hệ thống phản hồi và âm thanh để tạo nên một vòng lặp vĩnh cửu. Những ký ức ấy, dù không hoàn hảo, nhưng vẫn đầy ắp những dư âm đáng nhớ và ý nghĩa ngân vang.

Tiếp nối âm thanh ký ức của chuỗi “Không đề (Ghi chú về lãng mạn và những thành phố)” là bức tranh đơn sắc “Bảy hạt đậu xanh” của Bi Tuyền. Được đặt riêng biệt ở gian hành lang, “Bảy hạt đậu xanh” hòa vào không gian triển lãm thành sự tiếp nối của ký ức khi những hồi tưởng ngưng đọng thành hình ảnh tĩnh lặng.

Tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bi Tuyền theo đuổi hội họa biểu hình, một lối đi riêng biệt khác với bạn bè đồng trang lứa. “Bảy hạt đậu xanh” tái hiện ngôi nhà của cô với em trai ngồi trước bức tranh “Mã đáo thành công”. Tên gọi “Bảy hạt đậu xanh” bắt nguồn từ câu nói dùng để trấn an Phát – cậu bé trong bức tranh – khi đang trong trạng thái hoảng loạn sau khi bị chó cắn. Từ đó, bức tranh kể về câu chuyện của sự thiếu thốn và cách một đứa trẻ thiếu điều kiện đến nỗi gần như phải tự xoay xở, tự đối mặt với khó khăn trong thế giới của mình.

Sử dụng kỹ thuật vẽ đắp nhiều lớp cùng gam màu trắng đen, “Bảy hạt đậu xanh” như một kỷ niệm quen thuộc không rõ ràng nhưng cũng không mờ nhạt trong ký ức của cô và cũng như của nhiều người khác. Quyết định sử dụng gam màu tối giản bắt nguồn từ chủ ý: sắc trắng và đen mang tính tự thân về nội dung và có khả năng đại diện cao hơn. Việc tiết chế màu sắc tạo điều kiện cho người xem có thể chiêm nghiệm toàn diện mọi hình tượng và chi tiết trong tranh.
Với Bi Tuyền, vẽ là cách để nhìn nhận sâu sắc hơn những hình ảnh hay biểu tượng vốn quá gần gũi đến mức ta thường xem chúng là điều hiển nhiên. Vì thế, “Bảy hạt đậu xanh” như là một quá trình tối giản hóa của ký ức chỉ còn ánh sáng, bóng tối, hình khối và nét cọ để từ từ hiển lộ ra hình ảnh từ ký ức của họa sỹ.

Song hành với những kỷ niệm từ quá khứ là trải nghiệm về đức tin của họa sỹ Nguyễn Đức Tín với bộ tranh “Tin”. Được trưng bày trong một căn phòng riêng biệt, tách hẳn khỏi tiếng nhạc dư âm của Thủy Tiên Nguyễn. Với chủ đề chính là các nhân vật ít được nhắc đến trong số 117 vị thánh tử đạo, bộ tranh đưa người xem qua hành lang ký ức của họa sỹ, những trải nghiệm của anh với đạo Công giáo.

Bắt đầu bộ tranh là bức chữ Tin được viết bằng chữ Nôm trên vải mùng, tiếp đến là tám vị thánh tử đạo như Luca Vũ Bá Loan – người đã giữ vững đức tin và chấp nhận chịu tử hình bằng cách xử trảm ở tuổi 84 dưới thời vua Minh Mạng để minh chứng cho lòng trung thành với Thiên Chúa. Chân dung của các vị thánh được vẽ trên giấy Dó và ẩn đằng sau vải mùng đen dày. Những bức tranh “Tin” không đơn thuần chỉ là những bức chân dung mà còn có khả năng “tương tác” với người xem. Nhờ vào việc khám phá chất liệu vải mùng – một chất liệu ít được sử dụng mà họa sỹ được mẹ mình cho khi thiếu hụt kinh phí, những vết xé trên lớp vải mùng đen được họa sỹ điều tiết như một thước đo về ký ức: chúng mở rộng ở những vị thánh quen thuộc và khép lại ở những gương mặt đã dần bị lãng quên theo thời gian. Những bức tranh tuy tăm tối nhưng không đem lại cảm giác rùng rợn thường có mà lại là sự đau buồn cho những nhân vật quan trọng trong lịch sử nhưng đang dần phai mờ trong cộng đồng.

Phương pháp nghệ thuật này của Đức Tín cũng được sử dụng cho bộ tranh gồm 12 tác phẩm trong buổi triển lãm trước của anh – “DUCTIN” – khi anh sử dụng những chất liệu tương tự như vải mùng, mica màu hay inox. Trong một căn phòng kết nối kế bên bộ tranh “Tin”, ba tác phẩm tiêu biểu từ bộ tranh “Tâm” đem người xem trở lại hành trình bắt đầu của anh trong việc khám phá chủ đề tôn giáo trong nghệ thuật.
Những câu chuyện về nguồn gốc, cảm hứng khám phá chủ đề tôn giáo và lựa chọn chất liệu, kỹ thuật thực hành nghệ thuật của mình đã được Đức Tín chia sẻ trong bài phỏng vấn với Art Nation.

Giữa không gian triển lãm là tác phẩm của nghệ sỹ người Lào – Willie Xaiwouth. Cũng như những nghệ sỹ trước, Willie cũng có mối quan tâm về văn hóa và ngôn ngữ khi chính ngôn ngữ nơi anh lớn lên đang dần mất đi bởi hiện đại hóa. “Hơi thở phai tàn của một ngôn ngữ bị quên lãng” là một bức thư thêu tay trên mặt vải calico bằng hoa tre mà anh góp nhặt được tại quê hương anh ở Xayabury, Lào.

Treo giữa giếng trời tại hành lang trung chuyển giữa những nhịp cầu thang, nơi rải rác những bông hoa tre. Tác phẩm thoạt nhìn chỉ là những dòng chữ bình thường trải trên thớ vải dài nhưng lại là một bức bí ẩn. Sự xuất hiện của bức thư cũng chỉ thoáng qua như một vệt ký ức, bởi chính nội dung ẩn sau những con chữ ấy vẫn chưa được lý giải. Qua đó, Willie muốn khơi gợi cuộc đối thoại về nỗ lực gìn giữ giá trị truyền thống và di sản văn hóa đang dần tán lạc của người Tai Yuan (hậu duệ của vương quốc Lan Na) cũng như của các dân tộc khác đang sống rải rác khắp đất Lào và Thái Lan.

Thoát ra khỏi sự lãng quên ký ức, tác phẩm “Đất Quên” của Hằng Hằng là sự gợi nhớ ám ảnh về quá khứ. Khám phá chủ đề về chiến tranh và di cư, “Đất Quên” là một tác phẩm sắp đặt đồ sộ, được chế tác từ vải da lộn và đặc biệt là được đính bởi tóc thật. Những sợi tóc ấy Hằng Hằng thu thập được từ tiệm salon của mẹ cô và trong cộng đồng xung quanh. Sau đó, cô cùng gia đình đã đục từng lỗ kim, đính từng sợi tóc lên bề mặt tấm da. Vì thế, có thể nói rằng “Đất Quên” là một tác phẩm nghệ thuật to lớn đại diện cho công sức và sự bền bỉ, tận tâm của từng thành viên trong gia đình cô.

Đặt trong một gian phòng tối, nơi nguồn sáng duy nhất là qua khe hở giữa hai tấm rèm. Nhìn từ xa, bóng của những sợi tóc như tái hiện lại khung cảnh của một vùng đất: nơi cằn cỗi, trống trải; nơi um tùm, tối tăm. Khác với những cánh rừng xanh mướt, vùng đất này đầy rẫy những vết tích ám ảnh về một thời kinh hoàng của chiến tranh. Những sợi tóc vốn dĩ mềm mại nhưng lại sắc bén xuyên qua lớp da như những ức niệm nặng nề. Chúng gợi liên tưởng về một cánh rừng xơ xác – nơi từng cháy xém dưới làn bom đạn, nơi khác vẫn còn rực đỏ dư âm của những trận lửa. Những sợi tóc vô danh ấy hiện thân cho những câu chuyện về chiến tranh, xung đột vẫn còn để lại vết thương cho đến tận ngày nay. Nhưng đồng thời, ẩn sau vẻ gai góc ấy là bản chất của ký ức: được dịu dàng nâng niu và trao truyền qua bao thế hệ.

Những ký ức ám ảnh về quá khứ không dừng ở đó, “Chiếc đĩa của ngày để lại” là tác phẩm sắp đặt bởi 50 chiếc đĩa làm từ giấy tái chế bởi Hul Kanha. Tác phẩm là sự hiện hữu của tuổi thơ khó khăn và sự kiên cường bền bỉ của cô khi đối mặt với nghèo đói tại một vùng quê ở Siem Reap, Campuchia.
Được nâng đỡ trên những chiếc trụ mảnh khảnh với độ cao thấp khác nhau – tượng trưng cho những nốt thăng trầm trong cuộc đời cô – mỗi chiếc đĩa là sự giao thoa giữa nét vẽ hồn nhiên đầy sắc màu, ánh nhũ vàng lấp lánh và cả những bức ảnh gia đình đen trắng. Từ đó, cô kể lại câu chuyện về sự nghèo đói thông qua những chiếc đĩa trống không, hay ý chí sinh tồn mãnh liệt được gửi gắm vào hình vẽ những củ cà rốt và dưa chuột. Tất cả những chi tiết ấy đều được đan cài và kết nối bằng những sợi chỉ đỏ, như là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của con người ngay cả trong những nghịch cảnh ngặt nghèo nhất.

Bằng việc sử dụng chất liệu giấy tái chế – loại giấy được tái sinh từ những mảnh giấy vụn, giấy cũ xé nhỏ để hình thành một hình hài mới – “Chiếc đĩa của ngày để lại” là phản chiếu của những trải nghiệm trong quá khứ của nghệ sỹ, khi bản thân cô bị coi thường và ngó lơ bởi những người xung quanh. Thông qua chất liệu này, cô khẳng định niềm tin vào việc tái định nghĩa bản thân, cũng giống như cách giấy tái chế được tái cấu trúc để tìm thấy một ý nghĩa và giá trị mới.

Bên cạnh những ký ức về một thời khó khăn từ quá khứ là câu chuyện ít người kể hay có thể nói là thường bị lãng quên trong dòng lịch sử của cộng đồng queer Việt Nam. “Nếu có thiên đường” là một video ca nhạc của Hà Đào, đề cập đến khía cạnh ít được nhắc đến của nữ giang hồ nổi tiếng – Dung Hà. Được thực hiện với thẩm mỹ của đầu những năm 2000, tác phẩm sử dụng ca khúc nổi tiếng “Đêm Nay Anh Mơ Về Em” của Lam Trường để kể về câu chuyện tình giữa Dung Hà và người phụ nữ mà cô nặng lòng.
Hoạt động vào những năm 1990, Dung Hà là “nữ tướng” giang hồ khét tiếng ở Hải Phòng. Xu hướng tính dục của cô từng là chủ đề bàn tán của giới báo chí. Năm 2000, Dung Hà bị sát hại trong một cuộc thanh trừng gây chấn động thế giới ngầm tại Việt Nam. Trong các tác phẩm hay tiểu sử của Dung Hà thường chỉ nhắc đến câu chuyện về cuộc đời giang hồ của cô hay về những chuyện tình với các trùm xã hội đen khác. Chính vì thế, mối tình của cô với người phụ nữ được cho là người tình thường bị bỏ qua và cô chỉ được nhớ đến qua cách ăn mặc nam tính và xu hướng tính dục của mình.

Trong “Đêm nay anh mơ về em”, Dung Hà được tái hình dung như một nhân vật tình tự thay vì một kẻ phản diện. Bằng cách kiến tạo lại cuộc đời của Dung Hà trong một không gian suy tưởng – nơi nhân vật có thể tiếp tục mối tình còn dang dở, Hà Đào đã mang lại một “thiên đường” vốn bị khước từ ở đời thực của nhân vật. Được đặt tại một gian phòng riêng, video ca nhạc được chiếu cạnh hai khối pha lê khắc hình ảnh sòng bạc đầu tiên tại Việt Nam và nơi an nghỉ cuối cùng của Dung Hà. Tác phẩm như một cử chỉ vỗ về dành cho cuộc đời của nhân vật.

Ký ức, quá khứ, hiện tại hay không gian là những từ được dùng – nhưng vẫn chưa đủ – để lột tả trọn vẹn tác phẩm sắp đặt của Lê Tuấn Ry – “18 bài học về cảnh quan”. Tác phẩm bao gồm hai phần: phần thứ nhất là 18 màn hình CCTV ở tầng trên cùng của phòng trưng bày Dogma, và phần thứ hai là tác phẩm sắp đặt trong studio của nghệ sỹ ở Hà Nội.
Ám ảnh bởi ranh giới giữa kẻ nhìn và người bị nhìn, Ry truy vấn bản chất của nghệ thuật thị giác: Ta đang tái hiện một phong cảnh chân thực, hay chỉ đang sao chép những hiệu ứng hiển thị trước mắt? Với quy luật điểm tụ trong hội họa phương Tây, ta chỉ đang nhốt mọi cảnh vật vào một khung hình chuẩn xác, hay trong tranh sơn thủy Trung Hoa, ta chỉ miêu tả lại những gì mình thấy khi nhìn trên cao. Liệu rằng việc tái hiện lại khung cảnh qua những quy luật, những kỹ thuật mà đem lại định nghĩa về một bức tranh phong cảnh có đủ để chứa đựng hồn cốt của tự nhiên? Trong tác phẩm sắp đặt lần này của Ry, cảnh quan không còn là một mô phỏng tương đối, bất động mà là một cảnh quang không thật, biến đổi liên tục qua sự tác động của người xem.

Đằng sau tấm rèm đỏ, 18 màn hình CCTV là 18 góc nhìn khác nhau của khối chủ thể, được thực hiện bởi hàng ngàn tấm phim X-quang thu được từ các bệnh viện trong khu vực. Những mảnh ký ức sinh học này được cắt gọt và kết nối tỉ mỉ, tạo thành một khối điêu khắc đồ sộ – một tập hợp những hình thể bên trong của những con người vô danh, lơ lửng giữa một không gian biệt lập. Bằng cách vặn hộp nhạc, người xem đóng vai trò của một thực thể quan sát khối điêu khắc ấy từ nhiều góc, lay động tác phẩm trong thời gian thật ở không gian trưng bày nhỏ cách xa hàng ngàn kilomet qua màn hình CCTV. Từ đó, tái hiện đầy đủ cảnh quan, một bức tranh phong cảnh đa diện, luôn vận động và biến đổi đúng như bản chất của “khí vận sinh động” mà nghệ sỹ theo đuổi.

Khép lại buổi triển lãm là âm dư ký ức vang vọng của Đỗ Văn Hoàng với tác phẩm “Con trai người làm đậu” được trình chiếu xen kẽ với sự hiện diện âm thanh của tác phẩm trước đó là “Rau, tỏi, ớt, coca”.
Trưng bày nằm ở tầng trệt của không gian triển lãm, bên trong buồng giấy tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. “Con trai người làm đậu” và “Rau, tỏi, ớt, coca” tạo ra một thế giới riêng, kể về ký ức tuổi thơ tị nạn tại Hồng Kông, sự di dời và gia đình. Từ những trải nghiệm đó, anh mượn cảm hứng từ thiết kế Hệ thống Vách ngăn Giấy của Shigeru Ban nhằm tôn vinh lòng trắc ẩn và những nỗ lực cứu trợ nhân đạo, rồi từ đó dẫn dắt người xem quay lại hành trình về một thời lạc lõng của chính mình. Kể cả khi đã kết thúc, tác phẩm vẫn để lại dư âm du dương của tiếng gió, tiếng sóng, mãi quẩn quanh trong tâm trí người xem.

Triển lãm Giải thưởng Dogma 2025 là một hành trình ký ức đưa khán giả qua những câu chuyện, những chuỗi hình ảnh từ hoài niệm, vỗ về cho đến ám ảnh, đau buồn. Các tác phẩm lần này đã khẳng định chắc chắn về sự đa dạng trong nghệ thuật đương đại, sự sáng tạo và thành thạo trong việc biểu đạt những câu chuyện, những trải nghiệm vốn khó có thể diễn tả bằng lời, ngay cả khi đó là những ký ức gai góc và khó lòng đối diện.
VỀ TRIỂN LÃM GIẢI THƯỞNG DOGMA 2O25
Địa điểm: 27A Nguyễn Cừ, Thảo Điền, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian mở cửa: 11:00–18:00 | 05.12.2025–28.02.2026 (Thứ Năm – Chủ Nhật)
Vào cửa tự do.
Thực hiện: Khoa Dương


