
Chúc mừng anh Tín với các thành tựu trong năm vừa qua! Các tác phẩm của anh thường xuất hiện các hình ảnh, biểu tượng lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ, các phúng dụ trong Kinh thánh và các nhân vật lịch sử Công giáo. Xin anh hãy chia sẻ lý do khiến anh có mối quan tâm tới những chủ đề này.
Những hình ảnh đó đến với tôi rất tự nhiên vì thứ nhất, tôi là người Việt Nam và tôi rất thích những hình ảnh văn hóa của Việt Nam. Thứ hai, tôi sinh và lớn lên trong gia đình Công Giáo. Những hình ảnh nghệ thuật và giáo lý đã in sâu vào tâm trí tôi từ nhỏ. Khi trưởng thành, sự kết hợp giữa kiến thức mỹ thuật tại trường cùng tư duy triết học, thần học trong quá trình tu tập giúp tôi đồng cảm sâu sắc với tư tưởng của Thánh Augustine khi Thiên Chúa hiện diện trong mọi hình thái. Hơn nữa, sự giao thoa giữa văn hóa và tôn giáo vốn là dòng chảy sẵn có trong hội họa Việt Nam. Vì vậy, tôi chọn thể hiện những gì bản năng và tự nhiên nhất của chính mình.

Các hình tượng trên sẽ được anh tái cấu trúc ra sao? Anh sẽ giữ nguyên hình thái của biểu tượng / nhân vật đó hay các nhân vật sẽ được đặt vào trong bối cảnh khác so với câu chuyện gốc?
Hãy lấy ví dụ cụ thể về bức tranh Bình An (2023) có chi tiết trích từ bức tranh dân gian “Chuột Múa Rồng” – một bức tranh tiếu lâm.
“Có thể phân biệt các nhân vật này trong tranh gồm hai con chuột cầm sào dài nâng hình rồng cao lên thụp xuống, một người cầm sào đính vào đầu rồng, một người phía đuôi. Nét trào phúng cơ bản được thể hiện ở chính cái đuôi chuột dài ám chỉ đuôi tóc tết dài (đuôi sam) của người Hoa vào thời kỳ đó.”
(Trích “Tranh Dân Gian Việt Nam – sưu tầm và nghiên cứu”, Maurice Durand)

Trong thực hành nghệ thuật, tôi lựa chọn cách tiếp cận kết hợp giữa việc bảo tồn hình thái cốt lõi và thay đổi hoàn toàn bối cảnh tự sự theo góc nhìn của hiện tại. Về hình thái, tôi chọn giữ nguyên diện mạo cốt lõi của nhân vật (như những chú chuột trong “Chuột Múa Rồng”) để bảo tồn hình ảnh nguyên bản truyền thống và tính nhận diện bản sắc. Về bối cảnh, tôi thay đổi hoàn toàn ngữ cảnh. Thay vì đặt nhân vật vào những hoạt cảnh trào phúng cũ, mình đưa chúng vào một bối cảnh mới: nơi có sự đối thoại giữa tính Dương (sự sống của đàn chuột) và tính Âm (tâm linh, ngựa giấy, hoa vạn thọ). Về mặt cấu trúc, điểm mới nằm ở sự xuất hiện của các yếu tố ẩn dụ như “nhánh dây leo có gai”. Nó biến bức tranh từ một câu chuyện lịch sử thành một lát cắt về mâu thuẫn nội tại và sự phát triển âm thầm của văn hóa trong mỗi con người hiện đại.
Chất liệu vải mùng có tính xuyên thấu tương tự lụa. Anh đã thao tác trên chất liệu này ra sao trong các tác phẩm ở triển lãm “Mùng Trời Chiếu Đất”, “DUCTIN” và “Giải thưởng Dogma 2025”?
Ở mỗi triển lãm, tôi xử lý chất liệu mùng theo những cách khác nhau, tùy thuộc vào tinh thần và nội dung mà dự án hướng đến.
Trong triển lãm “Mùng Trời Chiếu Đất”, phần lớn các tấm vải được giữ ở trạng thái phẳng, ít tạo khối hay tách lớp. Cách xử lý này xuất phát từ việc loạt tác phẩm khai thác văn hóa Việt Nam và mỹ thuật dân gian vốn mang tính ước lệ, giản lược và thiên về mặt phẳng, gần với tư duy thị giác 2D. Chất liệu xuyên thấu ở đây không nhằm tạo chiều sâu không gian, mà đóng vai trò như ký ức hay lớp văn hóa được phủ chồng lên hiện tại.

Ở “DUCTIN” và “Giải thưởng Dogma 2025”, nội dung tập trung nhiều hơn vào những lớp nội tâm bên trong con người. Tôi khai thác rõ hơn đặc tính xuyên thấu của mùng bằng cách tách lớp, chồng nhiều tầng vải và bố trí chúng trong không gian để tạo cảm giác có chiều sâu. Người xem không chỉ nhìn vào bề mặt hình ảnh mà còn có thể “đi xuyên” qua các lớp vật liệu, giống như đang bước vào những tầng khác nhau của tâm lý và bản ngã.

Với loạt tác phẩm “Tâm”, hoàn phẩm là những bức tranh với bốn lớp chất liệu tương ứng với bốn tầng lớp trên cơ thể con người: giấy dó, toan – xương, mica phủ sơn phản quang – cơ, vải mùng – da, mica gương – linh hồn. Anh có thể giải thích thêm về tính giải phẫu học và ý niệm của loạt tác phẩm này?
Khi quan sát kinh nghiệm bản thân và những người xung quanh, những điều mình đang hướng tới quy về sự tìm kiếm bình an. Để hiểu được bình an là gì hay làm thế nào để tìm thấy được nó thì đó quả là một cuộc hành trình dài mà con người phải trải qua những cung bậc trong cuộc sống. 12 tác phẩm tương ứng với 12 chân dung nhân loại điển hình: từ người lao động bình dân đến người có địa vị, từ tâm thế lạc quan đến nỗi khắc khoải đời thường. Sự đan xen chất liệu phản ánh sự phức tạp của con người trong các mối quan hệ xã hội.
Thay vì là những bức chân dung rời rạc, cả loạt tranh tổng hòa nên một hành trình tâm linh: Đi từ những khát khao vật chất, sung túc bên ngoài để dần chạm đến sự bình an đích thực trong tâm hồn. Ở đó, người xem không chỉ quan sát nhân vật, mà còn thấy bóng dáng của chính mình phản chiếu qua lớp “inox gương” của tác phẩm.

– Giấy dó & Toan (Xương): Nền tảng cốt lõi, định hình khung dáng. Với nghề vẽ, việc cốt lõi của thực hành là trên giấy và toan là điều cơ bản.
– Mica cam (Cơ): Sự vận động, năng lượng và phản ứng với môi trường. cũng là lớp filter cho xương, sự dẻo dai trong cái nhìn đa chiều
– Vải mùng (Da): Lớp màng bao bọc mỏng manh nhưng nhạy cảm nhưng cũng nhờ làn da mà con người được cảm nhận trực tiếp với các vật thể và cũng là sự biểu hiện bên ngoài của cảm xúc.
– Mica gương (Linh hồn): Tầng sâu nhất, nơi phản chiếu bản ngã và sự tự thức.
Việc chồng lớp trong loạt tác phẩm “TIN” che khuất bóng dáng của tám vị Thánh Tử Đạo Việt Nam. Vì sao anh lựa chọn những nhân vật này? Sự hiện diện của họ liên quan tới đức tin của bản thân anh ra sao?
Tám bức chân dung của tám vị Thánh Tử Đạo Việt Nam được lựa chọn dựa trên mối tương quan cá nhân của nghệ sỹ, bao gồm: Thánh Luca Vũ Bá Loan (linh mục), Thánh Phê-rô Đoàn Công Quý (linh mục), Thánh An-rê Dũng Lạc (linh mục), Thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm (giáo dân), Thánh Annê Đê Lê Thị Thành (giáo dân), Thánh Phaolô Tống Viết Bường (pháp quan), Thánh Micae Hồ Đình Huy (quan), và Chân phước Anrê Phú Yên (giáo dân).
Việc chồng nhiều lớp vải mùng che lấp chân dung 8 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam nói lên một phần của lịch sử ít được nhắc tới và hầu như bị lãng quên. Đây là cột mốc quan trọng trong lịch sử hình thành của Giáo hội Công giáo Việt Nam suốt gần ba thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến XIX. Việc để lộ một phần khuôn mặt, đặc biệt là ánh mắt, thông qua những vết xé trên lớp vải, ngụ chỉ sự tra tấn và cực hình mà họ phải chịu khi bảo vệ đức tin. Dù thân thể bị tổn thương, ánh nhìn của các vị như một dấu hiệu của sự kiên định nội tâm và sức mạnh tinh thần. Trong tác phẩm, đức tin không trình hiện như một khái niệm trừu tượng, mà hiện diện qua sự chịu đựng, bền bỉ và lựa chọn sống chết của con người. Họ không chỉ là những nhân vật lịch sử, mà còn là biểu tượng cho một đức tin được sống qua nhiều tầng lớp, nghề nghiệp và hoàn cảnh.
Với truyền thống gia đình theo đạo Thiên Chúa, tôi đã lãnh nhận phép Rửa tội ngay từ khi mới chào đời, với tên thánh Luca Vũ Bá Loan, một vị thánh niên trưởng trong 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam. Bảy vị thánh được chọn còn đại diện cho sự đa dạng trong cộng đồng tín hữu: linh mục, giáo dân, quan chức triều đình, pháp quan. Việc đặt họ cạnh nhau nhấn mạnh: sự thánh thiện không giới hạn bởi thân phận xã hội.

Được biết chất liệu vải mùng là một phương án ứng biến trong quá trình sáng tác của anh. Anh đã xử lý và tối ưu hóa tính mong manh của chất liệu này ra sao?
Tôi tiếp cận nó theo cách rất trực giác: vừa làm vừa thử nghiệm. Chính quá trình thử ấy trở thành một phần quan trọng của phương pháp sáng tác. Để tối ưu hóa chất liệu, tôi thử nhiều cách xử lý khác nhau từ căng nhiều lớp để tạo chiều sâu không gian, gia cố ở một số điểm bằng khung, chỉ khâu hoặc keo nhằm giữ cấu trúc tổng thể. Nhờ đó, vải mùng vừa giữ được sự nguyên bản, vừa đủ bền để tồn tại trong không gian trưng bày.
Tác phẩm dưới đây lấy cảm hứng từ chiếc khăn liệm thành Turin. Với kiến thức trong thời gian tu dòng, anh hãy chia sẻ về các mình áp dụng các điển tích trong Kinh thánh để hiện thực hóa một tác phẩm.

Trong thời gian tu học, việc đọc Kinh Thánh, các sách thần học đã cho tôi một thói quen suy niệm, sau này tôi mới chuyển hóa sang ngôn ngữ thị giác. Tôi không tiếp cận các điển tích Kinh Thánh theo hướng minh họa trực tiếp, mà xem chúng như những tầng văn bản mở, nơi biểu tượng, dấu vết và sự im lặng cũng quan trọng không kém câu chuyện.
Khi làm tác phẩm này, tôi không cố tái tạo hình ảnh trên khăn liệm Turin một cách cụ thể, mà tập trung vào cảm giác sự hiện diện của một thân xác thật: dấu in mờ nhạt của thân thể, những vệt loang đỏ gợi thương tích, và bề mặt vải như mang ký ức của một biến cố đã xảy ra. Những suy niệm ấy tôi đã chuyển hóa qua việc xử lý chất liệu: để màu thấm sâu vào sợi vải, cho vết loang lan tự do, và giữ lại những khoảng trống như dấu hiệu của điều không thể nhìn thấy trọn vẹn.
Tôi coi việc sáng tác gần với một hành vi chiêm niệm: đọc, lắng nghe, và để hình ảnh dần hình thành qua thời gian. Tác phẩm vì thế không nhằm đưa ra một khẳng định giáo lý, mà mở ra một không gian suy tư, nơi người xem có thể đối diện với ký ức về đau khổ, cái chết, và khả thể của sự vượt thoát.
Bảng màu tươi, neon và có tính “vàng mã” là một đặc trưng trong các tác phẩm của anh. Cách anh sử dụng bảng màu này có mối liên hệ ra sao với các nguồn cảm hứng về dân gian và các truyền thuyết địa phương?
Ở miền Nam, các mảng màu chói và tương phản mạnh thường xuất hiện trong tranh kính thờ, bảng hiệu vẽ tay hay đồ cúng. Hình ảnh ấy đã in sâu vào trí nhớ thị giác của mình, vừa linh thiêng vừa bình dân.
Bên cạnh đó, tôi cũng tham chiếu đến tranh Đông Hồ ở miền Bắc, nơi bảng màu truyền thống: đỏ son, vàng hoa hòe, xanh lá, đen than được tạo từ chất liệu tự nhiên nhưng luôn đạt tới độ rực rỡ và phẳng hóa rất cao. Khi đặt hai nguồn này cạnh nhau, tôi nhận ra một điểm chung: cả tranh kính Nam Bộ lẫn tranh dân gian Bắc Bộ đều dùng hệ màu tượng trưng, trực diện và giàu tính nghi lễ.
Yếu tố “vàng mã” cũng liên hệ tới cách người Việt hình dung về thế giới bên kia thông qua vật liệu rực rỡ, ánh kim. Tôi quan tâm tới sự nhập nhằng giữa thiêng và tục trong những thực hành đó, và dùng bảng màu neon như một ngôn ngữ thị giác để nói về ký ức dân gian, niềm tin truyền khẩu và các lớp huyền thoại địa phương vẫn đang tiếp tục biến đổi trong đời sống hôm nay.

Với kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo, anh đã áp dụng những kỹ năng nào vào trong công việc thực hành nghệ thuật?
Trước hết là khả năng xây dựng cấu trúc và câu chuyện cho tác phẩm: từ việc phát triển ý tưởng tổng thể, xác định trục nội dung, cho tới cách các tác phẩm riêng lẻ liên kết thành một chuỗi hay một triển lãm hoàn chỉnh. Việc viết concept, biên tập nội dung và đặt tác phẩm trong một diễn ngôn rộng hơn giúp tôi không chỉ làm từng tác phẩm đơn lẻ, mà suy nghĩ theo dự án dài hơi. Bên cạnh đó là tư duy quản lý sản xuất bao gồm lập kế hoạch, thử nghiệm vật liệu, kiểm soát tiến độ, ngân sách và phối hợp với các bên kỹ thuật. Tôi cũng sử dụng kinh nghiệm về truyền thông và trình bày dự án.
Trong năm 2026, anh đang ấp ủ thực hiện các dự án nghệ thuật nào?
Tôi đang đồng thời phát triển hai kế hoạch cho các dự án triển lãm tiếp theo và đã bắt đầu bước vào giai đoạn nghiên cứu cũng như thử nghiệm vật liệu. Ở thời điểm hiện tại, tôi chưa muốn công bố chi tiết nội dung từng dự án, nhưng cả hai đều tiếp nối những mối quan tâm xuyên suốt trong thực hành của mình.
Cảm ơn nghệ sỹ Nguyễn Đức Tín vì những chia sẻ đầy tính khai mở. Chúc anh một năm mới thật năng suất với các dự án nghệ thuật sắp tới!
Thực hiện: Trao


