Mỹ học Trung Hoa cổ điển vũ

Nhà phê bình nghệ thuật Trần Đan Vy giới thiệu về bộ môn múa cổ điển Trung Hoa, một loại hình nghệ thuật kết tinh và bồi đắp qua hàng nghìn năm, trở thành biểu tượng cho sự tinh tế, hài hoà và chiều sâu tâm hồn thấm đượm mỹ cảm Á Đông.

Múa cổ trang Trung Quốc là một trào lưu văn hóa đang ngày càng phát triển ở Việt Nam những năm gần đây. Không chỉ tốt cho sức khỏe, bộ môn này còn có lịch sử hình thành phong phú và ẩn chứa những thông điệp sâu sắc về cái đẹp từ góc nhìn phương Đông. Qua tìm hiểu lịch sử và nghệ thuật Trung Hoa cổ điển vũ, ta thêm trân trọng các tư tưởng thẩm mỹ Á Đông truyền thống, cụ thể là những luận bàn về cái đẹp của học giả Phạm Quỳnh. Ông là người thấm nhuần mỹ học Tây phương nhưng trong tiểu luận “Đẹp là gì?” (1917), vị học giả này không quên chia sẻ những cảm thức Á Đông gần gũi, từ đó gợi mở những lý thuyết phù hợp để cảm thụ vũ đạo Trung Hoa tại Việt Nam.

 

Tượng “Vũ nữ” (618–907), đồ gốm, nhiều màu, 29,2 x 22,9 x 14cm. Ảnh: Viện Nghệ thuật Minneapolis.

 

Sơ lược về Trung Hoa cổ điển vũ

Tuy thuật ngữ “Trung Hoa cổ điển vũ” chỉ mới ra đời từ giữa thế kỷ 20, loại hình nghệ thuật này vốn có truyền thống rất lâu đời gắn liền với 5.000 năm lịch sử văn minh Trung Hoa. Qua từng triều đại phong kiến Trung Quốc, rất nhiều hình thức vũ đạo khác nhau được hình thành dựa trên nhu cầu văn hóa-xã hội, điển hình như “Vu vũ” thời nhà Thương, “Văn vũ” và “Võ vũ” thời Tây Chu, hay “Đại khúc ca vũ” đời Đường với tính thẩm mỹ ngày một nâng cao.

Ngày nay, khi nhắc đến vũ đạo cổ điển Trung Hoa, không thể không nhắc tới võ thuật cổ truyền: “Võ vũ đồng nguyên”. Võ (武) và vũ (舞) đồng âm khác chữ, tuy bản chất khác nhau nhưng cùng chung nguồn gốc từ nền văn hoá cổ xưa, bao hàm các động tác tương tự. Một nguồn ảnh hưởng quan trọng khác là những điệu múa của hơn 300 loại hí khúc truyền thống thịnh hành vào các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh như Côn khúc và Kinh kịch. Sau khi thành lập vào năm 1954, Học viện Vũ đạo Bắc Kinh kết hợp hí khúc, võ thuật và ballet để tạo ra giáo trình chuẩn cho Trung Hoa cổ điển vũ, trong đó hệ thống đào tạo ballet có tính khoa học và hiệu quả cao nên được coi như phương án huấn luyện thể chất phù hợp vào giai đoạn này. Đến nay, Trung Hoa cổ điển vũ không ngừng tinh lọc và hoàn thiện, sử dụng thân vận cũng như Thái cực quyền để nhấn mạnh tinh thần Trung Hoa như ta thấy ngày nay. 

 

Tượng “Vũ nữ” (thế kỷ thứ 2 TCN), đồ gốm có lớp phủ và chất tạo màu, 53,3 x 24,8 cm x 17,8 cm. Ảnh: Bảo tàng Met.

 

Vũ đạo cổ điển Trung Hoa chú trọng thân vận, thân pháp, và kỹ xảo. Thân vận là hồn cốt, huyết mạch của múa cổ điển Trung Hoa, thể hiện ý tứ, thần thái bên trong, tập trung vào vận khí và sự biến đổi cảm xúc nội tại. Chịu ảnh hưởng từ hí khúc, bản chất của thân vận là “tâm dẫn ý, ý dẫn khí, khí dẫn động”: lấy tinh thần dẫn dắt hình thể, lấy hình thể để truyền tải tinh thần. Thân pháp chỉ kỹ thuật biểu đạt bên ngoài và cách thức chuyển động thân thể như bộ pháp và các động tác kết hợp tay chân, đòi hỏi thể lực tốt và sự khéo léo. Kỹ xảo chỉ các kỹ thuật khó, bao gồm nhào lộn, nhảy, xoay và lật người, thường được thực hiện vào cao trào buổi diễn. Tất cả những yếu tố này tạo nên ngôn ngữ biểu đạt độc đáo của Trung Hoa cổ điển vũ.

Đặc điểm chủ đạo của múa Trung Hoa là năng lực biểu đạt phong phú cùng tiềm năng sáng tạo to lớn, từ khắc họa tính cách, tâm tư nhân vật đến tái hiện sinh động một câu chuyện lịch sử, tôn giáo, truyền thuyết, thần thoại, văn thơ. Loại hình nghệ thuật biểu diễn này có quan hệ mật thiết với bối cảnh văn hóa Trung Hoa, vừa biểu lộ những trạng thái tâm lý và tinh thần chung của nhân loại. Nhờ kế thừa kho tàng văn hóa lâu đời, Trung Hoa cổ điển vũ đa dạng, phức tạp, có khả năng cảm động nhân tâm và ảnh hưởng sâu rộng bên ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.

 

Hà Đại Tử (赫達資), Lương Thế Chính (梁詩正), “Hán Lý phu nhân (漢李夫人)” trong album “Thu thập ngọc quý (畫麗珠萃秀)” gồm 12 trang, mực và màu trên lụa. Ảnh: Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.

 

Thẩm mỹ Á Đông trong Trung Hoa cổ điển vũ

Múa Trung Hoa tập trung vào tính nội hàm, súc tích, mang xu hướng tả ý đậm nét văn hóa Trung Quốc nói riêng và Á Đông nói chung. Vào thế kỷ 20, một số trường phái múa ở Trung Quốc kết hợp ngôn ngữ ballet cổ điển châu Âu nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng. Đó là nhờ thân vận – hình thức biểu đạt đặc biệt, gắn chặt với tâm hồn vũ công và chính là linh hồn của Trung Hoa cổ điển vũ. Nếu múa ballet tập trung rèn luyện cơ chân và bàn chân, vào độ chính xác của động tác, múa Trung Hoa yêu cầu phối hợp thân vận, thân pháp, kỹ xảo và biểu cảm diễn xuất. Thân vận khai thác “hình, thần, kình, luật” – thông qua hình thể tư thế, thần thái cảm xúc, nội lực khí vận, quy luật tiết tấu để diễn tả khí chất của nhân vật kịch múa cũng như của con người Trung Quốc. 

 

Edgar Degas, “Vở ballet tại nhà hát Paris” (1877), phấn màu trên bản in đơn sắc trên giấy màu kem, 35,2 × 70,6 cm. Ảnh: Viện Nghệ thuật Chicago.

 

Bên cạnh đó, trong khi mỹ học vũ đạo cổ điển châu Âu chịu ảnh hưởng của gu thẩm mỹ hoàng gia quý tộc, mỹ học vũ đạo cổ điển Trung Hoa vượt ra ngoài sự thanh lịch của múa cung đình lẫn sự đặc sắc của múa dân gian. Giá trị thẩm mỹ của nó vì vậy không thể tách rời các giá trị đạo đức và văn hóa tín ngưỡng truyền thống, nổi bật là Tam giáo: Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Ví dụ như tạo hình “viên” (tròn) thường xuất hiện trong múa Trung Hoa để tạo hiệu ứng trôi chảy liền mạch. “Viên” chính là biểu tượng của đạo lý “trung dung” trong Nho giáo, “thiên nhân hợp nhất” trong Đạo giáo và “viên dung” trong Phật giáo. “Viên trường” (bước đi vòng tròn) chịu ảnh hưởng từ Kinh kịch, phản ánh niềm yêu thích đặc biệt đối với mỹ cảm đường tròn. Các tiết mục múa cổ điển Trung Hoa thường mang tính biểu tượng, đề cao các đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, sự hòa hợp giữa âm dương, đất trời cùng sự tôn kính thần linh. Các quy luật “dục hữu tiên tả, dục thượng tiên hạ, dục hậu tiên tiền, dục tiền tiên hậu” tượng trưng cho việc phối hợp nội tại và ngoại tại, muốn thể hiện ra ngoài thì phải xuất phát từ bên trong để dung hòa các cực đối lập. 

Nhờ nội hàm đậm tính triết lý, Trung Hoa cổ điển vũ đem đến một loại mỹ cảm khiến tinh thần thăng hoa. Vì nhạc vũ có tác dụng “tu tâm dưỡng tính,” một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá cái đẹp trong vũ đạo chính là thụ cảm tích cực từ phía khán giả. Quan niệm này trùng khớp với luận điểm của học giả Phạm Quỳnh: “Trong cái đẹp tức đã gồm một sự lợi ích cao thượng, là khiến được cho người ta thỏa lòng mãn ý, hưởng một sự du khoái thanh cao.” Vẻ đẹp nội tại của các tiết mục vũ đạo Trung Hoa truyền tải ước vọng điều hòa thân, tâm, trí và hướng đến lý tưởng về Chân, Thiện, Mỹ.

 

Trước đây được cho là của Chu Văn Cư (傳)周文矩 (hoạt động vào giữa thế kỷ thứ 10), “Những vũ công và nhạc công trong vườn” (thời nhà Thanh), mực và màu trên lụa, 162,9 x 96,9 cm. Ảnh: Viện Smithsonian cung cấp.

Trong “Đẹp là gì?”, Phạm Quỳnh còn có phân tích thi vị về “duyên”: “Duyên có lẽ là cái vô hình mầu nhiệm, ‘điểm nhỡn’ cho cái đẹp, mà không có thì đẹp thành ra ‘trẽn’, ra ‘trơ’. Duyên là ở dáng điệu uyển chuyển mềm mại, ở sự vận động, sự sinh hoạt điều hòa.” Thân vận chính là nét duyên tô điểm cho cái đẹp của vũ đạo. Các kỹ thuật “thân đới thủ” (thân thể dẫn cánh tay), “khố đới thối” (hông dẫn chân), tạo nên chuyển động tự nhiên, thanh thoát như nước chảy. Nếu không phối hợp nhuần nhuyễn giữa thân pháp với thân vận để hài hòa thân tâm thì sẽ thiếu đi nét duyên dáng, sống động, khó gợi cảm tình thẩm mỹ. Vẻ đẹp của khí trong thân vận tuy vô hình nhưng lại đầy tính trang nghiêm và thanh nhã, đồng thời giúp đạt được phép “khí vận sinh động” trong mỹ học Trung Hoa truyền thống. Thiếu khí chính là thiếu “duyên”.

Đối với học giả Phạm Quỳnh, có ba kiểu đẹp chính: chân mỹ (cái đẹp chỉnh đốn), diễm lệ (cái đẹp thông thường) và hùng tráng (cái đẹp cao kỳ). Theo ông, cái đẹp Đông phương thiên về phần diễm lệ mà thiếu về phần hùng tráng. Quan điểm này chưa hẳn đã đúng với Trung Hoa cổ điển vũ. Bên cạnh việc tôn vinh tính nữ truyền thống, múa Trung Hoa còn khắc họa nhiều tuyến nhân vật từ các vị thần, vị vua, tướng quân, thi nhân trong lịch sử, đến các nữ anh hùng hay nhân vật hiện đại. Sự linh hoạt này kết hợp với kỹ xảo hoành tráng, tiết chế bằng sự cân đối, hài hòa, chỉn chu của thân vận, hoàn toàn có thể tạo nên vẻ đẹp chân mỹ như trong múa cổ điển châu Âu. “Thủy tụ vũ” (múa ống tay áo dài) là một ví dụ kinh điển về cái đẹp chân mỹ. Động tác thu phóng dải lụa tay áo thoạt trông uốn lượn, uyển chuyển như dòng nước lại đòi hỏi nội lực thâm hậu, trong cương ngoài nhu, chính là một vẻ đẹp có trật tự, có chỉnh đốn nhưng vẫn không kém phần mỹ lệ kiểu Á Đông.

 

Một vở Việt kịch của Yulan Ji tại Nhà hát Tianchan, Thượng Hải, Trung Quốc.

 

Trung Hoa cổ điển vũ ẩn chứa vẻ đẹp phổ quát vĩnh cửu nhờ sự hòa nhịp giữa những chuyển động điêu luyện và tâm thái thanh tĩnh của nghệ sỹ múa. Mỹ học Trung Hoa cổ điển vũ bao hàm sự tương đồng văn hóa giữa các nước đồng văn là lý do vì sao múa cổ trang thu hút đông đảo người tập. Bộ môn này tràn đầy năng lượng và sức sống, giàu tính nhân văn và biểu cảm, song không quá khắt khe như múa ballet. Sự phát triển của múa Trung Hoa ở Việt Nam không chỉ mở ra thêm một hoạt động giúp người tập điều tiết cảm xúc mà còn là bước đệm để người thưởng thức tiệm cận các tư tưởng sâu xa trong mỹ học Đông phương.

Biên tập & Biên dịch: Trần Đan Vy

Art Nation

Art Nation là ấn phẩm nghệ thuật song ngữ duy nhất và hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ biên tập chuyên nghiệp, chúng tôi mang đến những ấn phẩm chất lượng cao, hướng đến sứ mệnh lan tỏa giáo dục nghệ thuật cho công chúng.

Bài viết liên quan

Dư ba một phổ họa Kiều

“Kim Vân Kiều” với 6 phụ bản minh hoạ được các họa sỹ Đông Dương nổi tiếng thực hiện, là một đại diện thú vị cho hoạt động phổ hoạ văn học thời bấy giờ.

Mộc gốm Biên Hòa – Dấu xưa còn mãi

Nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Quý chia sẻ những hiểu biết về cách nhận biết và xác thực các dấu mộc đóng trên sản phẩm gốm của Trường Mỹ thuật Biên Hòa xưa.

Đi đâu dựng rạp, sáng đèn

“Sài Gòn có nhiều sân khấu kịch hơn ta tưởng tượng. Rạp hát có thể ít, nhưng sân khấu thì ở khắp mọi nơi”

Ấn phẩm