Đây là một vài câu hỏi mà đạo diễn Cao Việt Nga đặt ra khi làm việc với tác phẩm “một thường nhật tiếp diễn” – một tác phẩm sân khấu được phát triển từ phim ngắn cùng tên do chính đạo diễn thực hiện vào năm 2023 về đêm mất ngủ của một cô gái sống trong đô thị. “một thường nhật tiếp diễn” được triển khai và sản xuất bản thử nghiệm trong khuôn khổ Project Đẩy Sàn 2025 và được đồng hành bởi Viện Goethe Thành phố Hồ Chí Minh.

Mở đầu tác phẩm, khán giả được dẫn vào một căn phòng nhỏ, khá tối, ước chừng khoảng 20-25m2. Biên giới của khu vực khán giả ngồi được đánh dấu bằng những dụng cụ nấu ăn / dụng cụ bếp như thìa, muỗng, nĩa… Một nhân vật đứng sẵn ở một chiếc bàn gần phía khán giả. Họ bắt đầu pha bột và nhào bột. Một tia đèn nhỏ từ mé cửa hắt vào bàn tay của họ. Không gian lặng im. Việc nhào bột lặp đi lặp lại diễn ra trong một khoảng lâu. Dưới bàn có một nhân vật thứ hai ngồi co cụm ngay từ đầu vở. Họ không động đậy gì suốt khoảng thời gian nhào bột. Sau phần mở đầu khá yên ắng, các nhân vật tiếp tục “cuộc sống” của mình với những hành động tương đối thường nhật, như rửa tay, thay đồ, lên giường, lăn qua lăn lại, lấy vợt đập muỗi… Mọi thứ trôi qua chậm rãi, có phần trì trệ do giới hạn của không gian cũng như do thiết kế ánh sáng mang màu u tối của tác phẩm. Thỉnh thoảng, “vở kịch” sẽ có vài hiệu ứng “sân khấu” xảy ra, như ánh sáng bên ngoài cửa sổ lia một đường tạo cảm giác một phương tiện giao thông phóng qua, hoặc âm thanh vo ve của muỗi khi nhân vật cầm vợt diệt muỗi lên.

Ở đoạn sau, những hành động nhỏ nhặt này được chuyển tiếp thành những hành động có tính sân khấu / trình diễn hơn. Tấm màn che khu vực rửa tay / thay đồ hạ xuống, lộ diện hai nhân vật có ngoại hình cũng như cách ăn mặc khá giống nhau, dường như có chủ đích. Họ cùng nhau thực hiện những động tác đối xứng như thể người này là chiếc gương phản chiếu của người kia. Không gian tâm lý của “vở kịch” dịch chuyển sang một vùng siêu thực hơn, như “đi vào trong đầu nhân vật” mà đạo diễn đã đề cập. Những hành động bắt đầu khơi mở hơn về nguyên nhân xuất hiện của chúng, nghĩa là chúng không đơn thuần là một hành động thường nhật cho phép khán giả suy diễn về tính năng hay mục đích thực tiễn như việc nhào bột, đập muỗi ở phân đoạn đầu. Ở một ví dụ khác, một nhân vật lừ đừ xuất hiện sau chiếc giường và bò thật chậm. Trên lưng họ là một khối bột to trễ xuống khi họ lết đi. Đôi lúc khối bột rớt xuống đất vài miếng. Hành động của nhân vật chỉ diễn ra chứ không tiến tới một mục đích. Sự xuất hiện của nhân vật này không được báo trước cũng như không tăng thêm kịch tính như một vở kịch thông thường. Thế nhưng, cách mà diễn viên cam kết với vai diễn đã giúp sự tồn hiện của nhân vật này cũng như hành động của họ như một hiển hiện buộc phải có trong một thế giới nội tâm không lý giải.


Ở phân đoạn cuối, cả 3 nhân vật của vở dùng các thiết bị trong bếp như đũa, muỗng, vá, thìa, xoong, chảo, tạo ra những âm thanh vô nhịp trong một khoảng lâu với âm lượng ngày càng to và dày. Âm thanh được đẩy lên đến cực đại cùng với ánh đèn sáng dần với tông đỏ / cam, trái ngược với phần đầu âm u lạnh lẽo. Và khi âm thanh dứt thì đèn cũng tắt theo. Khán giả ngồi trong bóng tối, chờ cho những giác cảm vang dội từ tiếng ồn tan ra.
Tuy chưa được xem phim ngắn cùng tên của đạo diễn Việt Nga nhưng tôi có thể tưởng tượng được cảm giác chiêm nghiệm điện ảnh của những sự việc trên. Có lẽ cũng vì thế mà những câu hỏi về thực và hư, cũng như về tính chân thật của hành động do tác giả đặt ra là thứ tôi muốn quán chiếu dựa trên căn tính của hai thể loại này. Một câu hỏi xuất hiện: những yếu tố mô phỏng hiện thực trong điện ảnh khi chuyển sang một thể loại yêu cầu tạm gác lại sự hoài nghi (suspension of disbelief) như kịch thì cần những cách diễn dịch như thế nào? Liệu rằng những diễn biến siêu thực của hình ảnh trong diễn ngôn điện ảnh vốn gắn liền với sự dàn xếp (mediated) có vận hành với cùng chức năng trong diễn ngôn sân khấu xoay quanh việc trình hiện trực tiếp (immediacy)!? Và khái niệm “siêu thực” ở đây có thể được hiểu theo hai nghĩa: đầu tiên là “surreal” – vượt qua hiện thực; hoặc thứ hai là theo nghĩa “super real” – vô cùng chân thật.
Đặt vấn đề theo một cách khác: phương thức chắp vá hình ảnh (image juxtaposition) của những hiện thực đứt gãy (segmented reality) trong điện ảnh (để tạo ra những sản phẩm vô cùng chân thực hoặc vượt qua hiện thực) khi áp dụng vào không gian sân khấu có toát ra được cùng ý niệm/ý nghĩa/cảm thức không khi những hình ảnh đó trên sân khấu sẽ cùng nhau song trùng tồn hiện (reality juxtaposition) và tồn hiện tiếp diễn (continuation of corporeality).
Những thắc mắc này hiển hiện rõ nhất trong các khoảnh khắc mang đậm dấu ấn làm việc của điện ảnh trong nửa đầu của vở (phần mô phỏng hiện thực). Điển hình nhất là âm thanh muỗi vò vè vang lên từ loa khi nhân vật cầm chiếc vợt diệt muỗi lên. Với phiên bản điện ảnh thì âm thanh này sẽ là kí hiệu (the signifier) cho sự tồn tại của con muỗi (the signified), và âm thanh này cho phép người xem tiếp nhận yếu tố “super-real” – vô cùng chân thật của điện ảnh mà không cần phải gác lại sự hoài nghi để tưởng tượng ra con muỗi. Thế nhưng trong không gian sân khấu, đặc biệt với khả năng diễn xuất rất tốt và khả năng duy trì sự tồn hiện thể lý nhân vật (continuation of corporeality) của các diễn viên, thì yếu tố tạm gác lại sự hoài nghi đã chi phối mạnh mẽ các hành vi của nhân vật, khiến cho những yếu tố phụ hoạ để mô phỏng thực tế như tiếng muỗi phát ra từ loa trở nên không còn cần thiết, thậm chí có phần dư thừa.

Nói cách khác, khi diễn viên cầm vợt lên và ngoái nhìn nhiều phía, thì dù không có âm thanh, đa phần khán giả vẫn hiểu được là nhân vật đó đang truy tìm con muỗi để tiêu diệt nó, chứ ít khán giả nào sẽ nghĩ rằng nhân vật cầm vợt diệt muỗi lên để biểu hiện một hành động vô nghĩa / trái nghĩa trái với công năng của chiếc vợt. Trái lại, tiếng muỗi phát ra từ loa lại có xu hướng giả tạo hoá không gian trình diễn, bởi nó mang theo các tạp âm và được phát cùng với âm lượng chưa hợp lý (hoặc cũng có thể là do giới hạn của thiết bị phát thanh) mà khán giả bắt được điểm khởi đầu và kết thúc của việc chạy file âm thanh, khiến cho cảm giác chân thật trong hành vi của diễn viên có phần bị can thiệp.
Tương tự với khoảnh khắc khi đèn bên ngoài lia qua cùng với tiếng xe. Trong trường hợp này, tiếng xe cùng với hiệu ứng đèn có trách nhiệm bổ trợ cho nhau để mô phỏng lại một sự kiện theo hướng chân thật (super-real). Thế nhưng, khi giả lập hiện thực trên sân khấu, tác giả sẽ phải đối chiếu với việc tạm gác lại sự hoài nghi và cân bằng các căn tính của trình diễn (reality juxtaposition và continuation of corporeality) để đánh giá xem hiện thực đó cần được triển khai ở mức độ nào. Với “một thường nhật tiếp diễn” – khi nửa sau của vở chuyển vào thế giới “siêu thực” – thì có lẽ việc mô phỏng hiện thực ở nửa đầu không cần phải đạt đến độ chuẩn xác như trên. Để khán giả biết được một chiếc xe lướt qua, có khả năng nào sân khấu chỉ cần âm thanh hoặc ánh sáng (chứ không phải cả hai) là đủ!? Nhìn ở một khía cạnh khác, sự đứt gãy của hiện thực mà việc mô phỏng không chuẩn xác cũng có thể cho phép khán giả được hoài nghi và đặt câu hỏi về những gì đang diễn ra.
Ngoài những câu hỏi về tính chân thật thì tác giả Việt Nga cũng đặt vấn đề với yếu tố cận cảnh – làm sao diễn dịch những hiệu ứng close-up của điện ảnh lên sân khấu mà vẫn giữ được tác động của nó. Tác giả đã triển khai thử thách này khá thành công trong việc bó hẹp các cụm đèn để rọi sáng các hành động trong vở. Ngoài ra, các hành động / hành vi này cũng được làm với tốc độ chậm rãi, thỉnh thoảng có tính chu kì như hành động nhào bột, tạo tò mò và kéo theo một sự tập trung nhất định. Sự tập trung này cho phép tác giả chắt lọc và kiểm soát được điểm nhìn của khán giả trong không gian, giống với cách ống kính chắt lọc và kiểm soát việc ghi hình các chi tiết. Một ví dụ điển là khi âm thanh và ánh sáng được mở ra vào cuối tác phẩm. Lúc này khi mà năng lượng của hai yếu tố trên trở nên hỗn độn thì hành vi mang tính chu kì (nhưng không mang tính nhịp điệu) của việc ngồi và gõ các đạo cụ đã giúp neo lại sự tò mò và tập trung của người xem – bó hẹp việc quan sát (close-up) vào 3 nhân vật khi toàn cảnh không gian trình diễn đang được mở ra.

Đạo cụ và thiết kế không gian cũng là một yếu tố khá thú vị của “một thường nhật tiếp diễn”. Đa phần các đồ vật trong vở là những dụng cụ “thật” có thể được sử dụng hằng ngày như bàn, giường, gối, mền… chứ không phải những “đạo cụ” được thiết kế để tăng hiệu ứng sân khấu. Trong số những thứ này thì những đạo cụ thuộc dạng bếp núc có phần được ưu ái / sử dụng nhiều hơn. Ngay cả ranh giới với khu vực khán giả ngồi cũng là dụng cụ bếp núc. Việc chia ranh giới bằng đạo cụ thế này có phần hơi gắng gượng, nhưng giả sử nó là một lựa chọn hợp lý, thì tại sao nó không là những dụng cụ thường nhật khác, như sách, bút, áo, xà phòng, bàn chải, vợt diệt muỗi…?
Về mặt hình ảnh, “một thường nhật tiếp diễn” có nhiều tính thử nghiệm về hành vi nhân vật và thiết kế không gian. Tuy vậy, cấu trúc của vở vẫn xây dựng theo mô hình năng lượng tăng dần – một mô hình khá quen thuộc trong loại hình kịch và điện ảnh truyền thống, và vở diễn kết thúc khi năng lượng được đẩy lên ở mức cao nhất. Có lẽ chính cấu trúc năng lượng tăng trưởng này đã cho tác phẩm một cảm giác mang tính sân khấu / trình diễn hơn là trình hiện. Điều này quan trọng bởi tôi có cảm giác “một thường nhật tiếp diễn” với tư cách là một tác phẩm muốn tự bộc lộ bản thân theo hướng trình hiện hơn là trình diễn.
Tuy vậy, nếu nhìn vào mặt bằng chung của một tác phẩm sân khấu đầu tay, thì “một thường nhật tiếp diễn” có những điểm chín chắn vượt trội trong lối trình diễn cũng như cách đạo diễn Việt Nga kiểm soát điểm nhìn và nhịp điệu của tác phẩm. Có lẽ sẽ rất thú vị nếu được đối chiếu với phim ngắn của tác giả để so sánh các thủ pháp xây dựng hình ảnh và cách triển khai không gian trình diễn của hai tác phẩm với nhau. Tuy vậy, tôi hy vọng những phản hồi trực quan và gói gọn trong phiên bản sân khấu lần này sẽ đặt ra những câu hỏi phù hợp để Việt Nga tiếp tục phát triển các tác phẩm tương lai và tiếp tục truy vấn về căn tính của sân khấu và trình diễn / trình hiện.
Bài viết được thực hiện bởi Lyon Nguyễn, được phát triển dưới sự đồng hành của Project Đẩy Sàn 2025 và Viện Goethe TP.HCM, và biên tập bởi Art Nation.
Hình ảnh được cung cấp bởi Project Đẩy Sàn 2025. Credit: Mini Creative Studio


