Tuy nhiên, quan niệm về thời gian tới nay vẫn hạ hồi phân giải, mỗi người đều có ý niệm khác biệt về thời gian. Trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam, dường như mỗi chú ngựa đều biểu đạt một dòng thời gian riêng, một cột mốc riêng – dù gắn với tiến trình lịch sử to lớn của đất nước, hay một hành trình trưởng thành rất đỗi riêng tư. Trong bài viết này, Art Nation sẽ cùng người đọc đi qua một số chú ngựa tiêu biểu của nghệ thuật Việt Nam, tương ứng với một cột mốc đáng trân trọng trong lịch sử mỹ thuật Việt.
GIÓNG (1990) – NGUYỄN TƯ NGHIÊM

“Gióng” (1990) của Nguyễn Tư Nghiêm là một trong những tác phẩm tiêu biểu của cây đại thụ cuối cùng trong thế hệ họa sỹ Đông Dương. Chú ngựa tuân theo hình tượng vốn có trong văn hóa dân gian, giữ lại tất cả những đường nét hào hùng, phóng khoáng và vẻ đẹp của lòng kiên trung. Tất cả được cài cắm hết sức tài tình.
Cách điệu kỷ hà giản lược con ngựa thành những đường nét và hình khối cơ bản như thẳng, cong, vuông, tròn, v.v. gợi tả hình dáng con vật qua các mảng dày đặc và chồng chất. Vô hình trung, bố cục trở nên cô đọng, giúp chú ngựa càng có nét bệ vệ, oai phong; khi sánh đôi với người anh hùng Gióng càng thêm cân đối. Những chi tiết phức tạp của ngựa và Thánh Gióng tương phản với hậu cảnh có phần đơn giản, chủ yếu là những mảng màu đơn sắc, trung tính và ít hoa văn. Từ đây, Gióng và ngựa cùng hô ứng, trở thành một khối thống nhất, nổi bật ở trung tâm bức tranh nhưng chưa từng lấn át lẫn nhau.

Bên cạnh đó, chú ngựa là sự kết hợp giữa văn hóa dân gian và kỹ thuật tạo hình độc đáo của Nguyễn Tư Nghiêm. Hình ảnh lưỡi rìu, giao long trên thân ngựa và móng ngựa cũng là một “cuộc chơi” của nghệ sỹ với nền văn minh Đông Sơn; hay ngay trên y phục của Thánh Gióng, ta thấy các hoa văn tiêu biểu trên trống đồng như vòng tròn tiếp tuyến. Mỗi chi tiết đều có dụng ý riêng; như hình tượng lưỡi rìu và giao long đặc tả quá trình lao động sản xuất, phục vụ cuộc sống ấm no hậu chiến tranh, đi đôi với tín ngưỡng phồn thực, nơi vạn vật đều sinh sôi.
Đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn của thời đại, tác phẩm mang theo cả hơi thở của lòng tự tôn dân tộc trước thời kỳ Đổi mới. Người anh hùng Gióng đã vung thân tre phá tan tác thế trận quân địch, nay mang chiến thắng về cho quê hương; còn chú ngựa tung vó đưa Thánh Gióng về trời, tựa như đất nước cũng đang chuyển mình, tiến về phía trước sau nhiều trang sử hào hùng chống giặc ngoại xâm. Tác phẩm “Gióng” là minh chứng cho một con người “mang tâm hồn dân tộc và thời đại một cách lắng đọng”, như họa sỹ Đặng Thị Khuê nhận xét về Nguyễn Tư Nghiêm, bởi trong câu chuyện oai hùng nhất của dân gian Việt Nam, chú ngựa ấy không ồn ào, phô trương, mà hiện lên trong tư thế hiên ngang, lẫm liệt.

BÁC HỒ Ở CHIẾN KHU VIỆT BẮC – DƯƠNG BÍCH LIÊN

Hình tượng ngựa luôn có vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian, điển hình như tượng ngựa đá thời Lê Trung Hưng đánh dấu thời kỳ nghệ thuật điêu khắc đá chạm đến đỉnh cao. Ngựa từng gắn liền với hình ảnh quan võ dũng mãnh, với những tính từ to lớn như nghĩa khí, trung thành, anh dũng. Đến với một chương khác trong lịch sử Việt Nam – thời kỳ Cách mạng, ngựa của Dương Bích Liên mở ra những cánh cửa mới để thưởng thức hình ảnh này.
Đồng hành với người cha già của dân tộc – Bác Hồ, chú ngựa không còn mang đậm dấu ấn sử thi, mà trở nên hiện đại hơn, với dáng vẻ trầm mặc, hiền lành, như một người đồng hành thân chí của vị cha già dân tộc. Nhờ Dương Bích Liên, chú ngựa không còn bị đóng băng trong khuôn mẫu dân gian hay thần thoại, cũng không bị trói buộc trong khung cảnh chiến đấu, mà dường như có đời sống riêng – gần gũi, khiêm nhường hơn.

Xét về mặt kỹ thuật, tác phẩm kiệm màu gần như chỉ có hai tông: xanh lục và vàng, nhưng các mảng màu lại giàu sắc độ, thể hiện bút lực phóng khoáng, giúp tầm mắt người xem trở nên khoáng đạt hơn. Màu sắc được đan cài lớp lớp, khắc họa phong cảnh núi rừng Việt Bắc, tuy mênh mông nhưng vẫn giữ bố cục hài hòa vừa vặn, không bị dàn trải. Tất cả đều tôn lên Bác Hồ và chú ngựa – hai cá thể đã hòa thành một ở góc phải, trở thành một điểm neo của toàn bộ bức tranh. Chú ngựa như được dỗ dành mà bớt phần sợ hãi, nhờ có sự hiện diện vững vàng của người anh hùng dân tộc, người vẫn đang bình tĩnh trước dòng suối chảy cuộn trào dâng. Tất cả đều khéo léo thể hiện lòng kính phục và tình yêu mà Dương Bích Liên dành cho Bác Hồ.
NGỰA, ĐÁ VÀ HOA – BỬU CHỈ

Chú ngựa của Bửu Chỉ gợi lên một mối sầu khác thường. Mỗi lần ngắm tranh đều để lại dư ba trong lòng người xem. Một chú ngựa đá mang hơi thở rêu phong, chịu sự mài mòn của thời gian, tấm lưng có lẽ đã nứt toác từ lâu, nhưng từ đó hàng chục đóa hoa ngũ sắc đang nở rộ. Dẫu thời gian có xóa nhòa đi sự tồn tại của chính chú ngựa, sự sống vẫn luôn sinh sôi nảy nở. Bức tranh đã vượt ra khỏi cuộc đời cá nhân của người họa sỹ mà trở thành một cột mốc biểu tượng, đánh dấu sự chuyển mình của cố đô Huế nói riêng và Việt Nam nói chung hậu Đổi mới. Những đóa hoa khoe sắc trên lưng ngựa đá là biểu tượng cho sự hồi sinh của cố đô khi Festival Huế lần đầu tiên được tổ chức năm 2000. Tạp chí Sông Hương năm 1988 đã đưa tranh Bửu Chỉ lên trang bìa của số kỷ niệm 5 năm.

Trong tất cả những chú ngựa của bài viết, đây là chú ngựa duy nhất có sự đồng hóa với chính người nghệ sỹ, như nhà thơ Thái Ngọc San đã viết trong bài thơ gửi tặng người bạn quá cố của mình:
“Mày đã hóa thân thành con ngựa đá trong tranh
Con ngựa với những bông hoa ngũ sắc
Trên bức tường vĩnh cửu”
Nếu “ngựa Bửu Chỉ” đã hòa làm một với đất trời và mãi mãi ra đi trong niềm nuối tiếc khôn nguôi của bao người yêu nghệ thuật, thì “Ngựa, đá và hoa” tiếp tục được thổi một sức sống mới nhờ thi ca và những bước chuyển mình của cố đô Huế ngày nay. Ví như bài thơ “Ngựa đá và những bông hoa cỏ” do nhà thơ Ngô Minh viết tặng Bửu Chỉ:
“Bạn bè ơi câu lý chạm ngực mình
Quất bão nỗi đám mây hình đuôi ngựa
Cơm rau muống bày bên vệ cỏ
Bạch mã đưa ta về kịp Huế mùa xuân
Biết tìm đâu người lính buổi xa xưa
Ai đang còn bạc phơ râu tóc
Nấm cỏ vô danh ai người đã khuất
Nhớ cuồng chân ngựa hóa đá đứng chờ”
Bức tranh cũng thể hiện ý niệm về thời gian một cách tinh tế: con ngựa hiền lành, trầm ngâm đứng dưới hai vầng nhật nguyệt – hai chấm điểm một đỏ, một vàng nổi bật trên nền xanh sẫm. Cách phối màu tương phản, kết hợp nhiều mảng và vệt màu nặng khiến chú ngựa như một điểm neo bất biến, chỉ trừ rêu phong đang phủ lên tấm lưng nứt rạn. Tuy nhiên, những bông hoa nở rộ từ vết nứt ấy gia giảm đi nét u hoài trầm mặc, mang đến niềm tin về xứ Huế đang không ngừng tiến bước về phía hừng đông rạng rỡ.
Gia đình ngựa – Lê Thiết Cương

Khác với ba tác phẩm trên, dòng thời gian được ngựa của Lê Thiết Cương mang trên lưng lại là thời gian đậm tính cá nhân, bởi lẽ đây là tác phẩm điêu khắc cuối cùng ông thực hiện trước khi mất. Xét cả hành trình trưởng thành trong nghệ thuật, tác phẩm là bằng chứng cho sự theo đuổi bền bỉ của Lê Thiết Cương dành cho thủ pháp tối giản. Tác phẩm sử dụng chất liệu đồng và sắt gỉ, tiếp tục trung thành với phong cách tối giản. Mỗi chú ngựa đều dựa trên cùng một bản phác thảo. Chiêm ngưỡng tác phẩm, người xem như có cơ hội đến gần hơn với đời sống nội tâm của người nghệ sỹ, cảm nhận đam mê cháy bỏng của ông dành cho nghệ thuật. Trên giường bệnh, Lê Thiết Cương vẫn tiếp tục làm việc với thợ để đưa ra phương án tối ưu nhất về mặt tạo hình, theo như con trai ông chia sẻ trên phóng sự do báo Thể thao & Văn hóa thực hiện.

Trong lịch sử mỹ thuật, trường phái tối giản lần đầu tiên được ghi nhận tại New York vào khoảng thập niên 1960, đối trọng với chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng (Abstract Expressionism). Những nghệ sĩ thuộc trường phái này giản lược đi những chi tiết phức tạp, những yếu tố trang trí không cần thiết, hướng đến sự đơn giản và rõ ràng – từ đó dễ dàng bộc lộ mối quan hệ giữa sự vật, không gian, và người xem. Tuy nhiên, trường phái tối giản không hoàn toàn chỉ là cuộc chơi của nghệ thuật phương Tây. Điển hình như Nhật Bản có phong trào Mono ha, khi các nghệ sỹ sắp đặt những vật liệu tự nhiên ở trạng thái nguyên bản thay vì cố gắng biến đổi chúng. Qua đó phản kháng tốc độ công nghiệp hóa quá nhanh chóng và sự lên ngôi của chủ nghĩa tiêu dùng hậu chiến tranh. Tại Việt Nam, Lê Thiết Cương là một trong những nghệ sỹ đương đại tiên phong theo đuổi phong cách tối giản từ thập niên 1990, nhưng mang tới phong vị khác biệt so với các tác phẩm tối giản phương Tây.
Thực hành của Lê Thiết Cương chịu ảnh hưởng bởi triết lý phương Đông, Kinh Dịch và Phật giáo. Vì vậy, “Gia đình ngựa” là trái ngọt của toàn bộ hành trình soi chiếu nội tâm trong một thế giới ồn ào, thay vì sự phản kháng đối với quy chuẩn về hình thức. Chất liệu sắt gỉ phi truyền thống giúp ngựa của Lê Thiết Cương vượt khỏi những ràng buộc về hình thức. Lựa chọn này càng đồng điệu hơn với hành trình suy niệm cá nhân và trường phái tối giản – vốn tránh những nguyên vật liệu đắt đỏ, hào nhoáng. Những chú ngựa đã tung vó lao mình vào chính dòng chảy cá nhân của người nghệ sỹ, cùng với các hình ảnh dân dã khác như con trâu, hạt gạo – đều là chất liệu biểu đạt tư tưởng mỹ học mang đậm dấu ấn “Lê Thiết Cương”.
HÌNH TƯỢNG NGỰA CÓ CÁNH – PHẠM XEEN

Có lẽ trong bài viết này, hình tượng ngựa của nghệ sỹ trẻ Phạm Xeen sở hữu tạo hình độc đáo nhất nhờ đôi cánh sải rộng trên lưng – không khỏi gợi nhắc ta tới con ngựa Pegasus trong thần thoại Hy lạp. Tuy nhiên, cảm hứng của anh được khởi sinh từ một mối duyên bất ngờ ngay trong văn hóa dân gian Việt Nam, đưa người xem trở ngược dòng thời gian, song vẫn giữ vẹn nguyên sức sáng tạo của lớp nghệ sỹ trẻ.

Sinh ra và lớn lên ở miền biển đảo, Phạm Xeen từ nhỏ đã nuôi dưỡng một niềm vui giản dị bằng việc sưu tầm những mảnh sành, gốm sứ trôi dạt từ biển khơi. Thói quen nhỏ bé đó vô hình trung đã đưa anh đến gần hơn với hình tượng ngựa có cánh trên gốm Chu Đậu, bởi đa phần những cổ vật gốm sứ Chu Đậu vốn được tìm thấy tại xác tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Đà Nẵng, Việt Nam). Dường như, càng tìm hiểu về hình tượng đã ngoài 400 năm tuổi này, người nghệ sỹ càng có mối liên kết sâu sắc hơn, từ đó khơi nguồn cảm hứng để thổi vào hình tượng ấy một sức sống mới.

Nhờ đôi bàn tay của Phạm Xeen, chú ngựa có cánh từng bước chuyển mình khỏi một biểu tượng trong sứ hoa lam mà hòa chung vào dòng chảy hiện đại. Anh trước hết vẽ lại chú ngựa bằng nét bút của riêng mình, sau đó in kéo lụa, và cuối cùng là thử nghiệm với công nghệ in 3D sử dụng chất liệu nhựa sinh học. Qua mỗi lần tung cánh, chú ngựa trở nên gần gũi hơn, làm nhòe đi lầm tưởng ban đầu về đông – tây, hay sự ngăn cách xưa – nay. Vốn dĩ hình ảnh ngựa có cánh chỉ xuất hiện trên đĩa sứ kích thước lớn, hiếm có ai ngoài tầng lớp thượng lưu có thể chiêm ngưỡng, bởi dòng gốm Chu Đậu thường chỉ được triều đình xuất khẩu từ cuối thế kỷ XIV đến cuối đầu thế kỷ XVII. Vì vậy, chất liệu nhựa sinh học, vốn xuất phát từ ngô, đã xóa mờ đi lằn ranh của không – thời gian cùng giai cấp, để người Việt hiện đại hôm nay cũng có thể chiêm ngưỡng một hình tượng hàng trăm năm tuổi.
LỜI KẾT
Ngựa từ lâu đã vang cùng một nhịp cầu với lời ăn tiếng nói của người Việt, từ những câu đồng dao mộc mạc thân quen “Nhong nhong ngựa ông đã về / Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”, tới các tác phẩm nay đã được mệnh danh “bảo vật quốc gia”. Giống như một chú ngựa khỏe khoắn không ngừng tung cao vó phi về phía trước, những chú ngựa trong nghệ thuật Việt Nam cũng lưu chuyển giữa vô vàn cõi không-thời gian, giữa cõi chung và cõi riêng. Chúng mời mỗi người gửi gắm lời diễn giải riêng, để mỗi dòng thời gian tưởng chừng như tách biệt và xa vời có dịp gặp gỡ trong mắt người thưởng lãm.
Thực hiện: Hoa


